Shopping Around

Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013

Kỹ thuật ương giống cá Mú

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

I. Tổng quan


- Cá mú là một trong những loài cá biển có giá trị kinh tế cao và đang được phát triển nuôi ở các vùng biển ven đảo của tỉnh Kiên Giang như Phú Quốc, Hòn Nghệ, Hòn Nam Du…


- Có thể khẳng định, nuôi thủy sản lồng bè nói chung và nuôi cá mú nói riêng là hướng chuyển dịch cơ cấu ngành nghề đúng đắn, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngư dân vùng ven đảo ở tỉnh Kiên Giang. Theo đó, để nghề nuôi phát triển bền vững cần thực hiện đồng bộ các biện pháp, chính sách sau: + Bảo vệ môi trường và nguồn lợi cá giống một cách hiệu quả.

+ Nâng cao kỹ thuật chăm sóc và quản lý sức khoẻ cá nuôi cho ngư dân.

+ Hổ trợ vốn, quy hoạch vùng nuôi và xúc tiến thương mại cho người dân.

+ Cung cấp đủ nguồn cá giống đạt chất lượng cho người nuôi.


- Như vậy, nguồn giống tốt là một khâu quang trọng quyết định đến năng suất và hiệu quả kinh tế vụ nuôi. Tính đến thời điểm hiện tại, nguồn cá giống thả nuôi ở Kiên Giang được khai thác chủ yếu từ tự nhiên, kích cỡ từ 5 – 10 con/kg, giá cả tương đối cao. Tuy nhiên, nguồn lợi này ngày lại càng suy giảm về chất lượng và số lượng do tình trạng khai thác quá mức và bất chấp của người dân.


- Thu gom nguồn giống tự nhiên kích cỡ nhỏ có sẵn tại địa phương, hay chọn giống nhân tạo kích cỡ nhỏ, sau đó đem về ương trong bè đến khi cá lớn đến hơn 10 cm thì tiến hành chuyển cá sang bè nuôi thịt là một trong những hướng giải quyết khó khăn về nguồn giống hiện nay một cách hiệu quả và kinh tế.


II. Kỹ thuật ương cá mú giống

1. Thiết kế bè ương

Bè được làm bằng gổ (loại chịu mặn, chịu nắng), lồng lưới, phao và neo. Phao được buộc chặt vào khung gỗ và lồng lưới được treo vào khung gỗ, đáy lồng được làm căng bằng khung sắt và đá. Lưới làm lồng tốt nhất là loại không có gút, kích cỡ mắt lưới từ 0,5 – 1cm đối với cá từ 3 – 5 cm. Bè ương phải chắc chắn và có quy cách 3 x 3 x 3 m, 6 x 4 x 3 m, 2 x 2 x3 m. Bè được phân thành nhiều ngăn, mỗi ngăn là một lồng lưới có thể tích từ 3 – 8 m3 để thuận tiện khi quản lý, chăm sóc và phân cỡ cá.


2. Chọn vị trí đặt lồng nuôi

Vị trí đặt lồng là nơi yên tĩnh, ít sóng gió, lưu tốc dòng chảy từ 0,1 – 0,2 m/s, độ mặn từ 20 – 25‰, pH lớn hơn 7 và tương đối ổn định trong suốt vụ ương, độ sâu nơi đặt lồng từ 4 – 8 m, chất đáy là cát, cát sỏi. Bên cạnh đó, nước tại vị trí đặt lồng phải trong sạch, không bị nhiễm dầu mỡ, nước thải và xa khu vực tàu bè neo đậu, qua lại.


be nuoi ca mu


3. Chọn giống cá

Chọn cá giống tương đối đều cỡ, linh hoạt, khoẻ mạnh, màu sắc tươi sáng, không bị dị hình, cơ thể không bị xây xát, tổn thương.


ca mu giong


4. Phân cỡ và tắm cá giống trước khi thả ương

- Cá giống trước khi thả ương phải được phân cỡ và tắm để giảm thiểu hao hụt do ăn nhau và bệnh tật phát sinh. Cá được cho vào bể hay thau chứa nước có sục khí và cho thuốc vào tắm. Có thể sử dụng oxytetracyline với liều lượng 80 – 100 g/m3, tắm từ 10 – 15 phút hay formol (100 g/m3) + thuốc tím (5 g/m3), tắm từ 5 – 10 phút. Sau đó thay nước mới và sử dụng các loại rổ hay khay có đục lổ với kích cỡ lớn nhỏ khác nhau để vớt và lọc cá thành các nhóm có kích cỡ khác nhau, mỗi nhóm kích cỡ cho vào lồng ương riêng. Như vậy cá trong một nhóm có kích cỡ tương đối đều nhau.


- Cá được thả vào lúc sáng hay chiều mát, các thao tác như vớt cá, vận chuyển, tắm cá phải nhẹ nhàng, tránh phơi cá trực tiếp dưới ánh sáng mặt trời. Mật độ thả ương từ 80 – 100 con/m3 đối với cá có kích cỡ từ 3 – 5 cm.


5. Chế độ chăm sóc và quản lý

Chăm sóc, quản lý tốt sẽ làm tăng tỷ lệ sống, sức sinh trưởng và giảm thiểu được bệnh tật, từ đó, vụ ương sẽ đạt hiệu quả kinh tế cao. Các khâu cơ bản trong chăm sóc và quản lý bao gồm:

a. Tạo giá thể

Tạo giá thể cho cá nhằm góp phần hạn chế cá hao hụt do ăn nhau và tạo nơi sống cho cá như ngoài tự nhiên. Giá thể có thể là:

- Các ống nhựa hay ống tre được xâu thành từng chuổi dài từ 1 – 2 m và treo trong lồng hay thả xuống đáy.


- Các túi lưới dài 1 – 2 m, 1 đầu được buộc vào cục đá và được thả hay treo trong lồng


b. Quản lý môi trường và vệ sinh lồng ương

Quản lý môi trường và vệ sinh lồng ương tốt sẽ làm dòng chảy qua lồng thông thoáng, các yếu tố môi trường ổn định và phù hợp cho cá, đồng thời chế được bệnh tật.

- Khi các sinh vật biển (rong, hàu, sao biển…) bám lưới lồng nhiều, phải tiến hành thay lưới mới.


- Thường xuyên kiểm tra và vệ sinh lưới, loại bỏ thức ăn dư thừa ra khỏi lồng nuôi.


- Hàng ngày tiến hành đo pH, độ mặn nước và ghi chép cẩn thận. Khi phát hiện các dấu hiệu bất lợi như pH giảm, độ mặn thay đổi đột ngột, có thể treo túi vôi hay chuyển bè đến nơi khác có điều kiện tốt hơn.


- Khi phát hiện nước có nhiều cặn bã (do sóng to gió lớn, do mưa lớn hay dòng chảy mạnh), nhiều sinh vật li ti xuất hiện, hay khi nước phát sáng… cần tiến hành treo túi thuốc trong bè (thuốc tím, oxytetracyline, xanh methylen, chlorine, formol…) hay chuyển bè sang nơi khác có điều kiện tốt hơn.


- Bố trí mùa vụ ương khi điều kiện môi trường bên ngoài như độ mặn, nhiệt độ, pH tương đối ổn định, tránh thả cá ương trong thời điểm giao mùa mưa nắng hay khi thời tiết trở lạnh.


c. Chế độ cho ăn

- Chọn thức ăn: thức ăn cho cá là tép, ruốc, nhuyễn thể, ghẹ hay cá tạp tươi được rửa sạch và băm nhỏ. Có thể trộn vào thức ăn vitamin c (10 g/1 kg thức ăn), khoáng (5 – 10 g/kg thức ăn), men tiêu hoá ( facs, aquazyme…), dầu mực (10 – 15 cc/ 1 kg thức ăn) để làm tăng tỷ lệ sống và sức sinh trưởng của cá ương. Nên xen kẽ cho ăn thuốc 5 ngày, ngưng 5 ngày để tăng hiệu quả sử dụng thuốc ở cá. Trong chế độ cho cá ăn, nên thay đổi nhiều loại thức ăn để đảm bảo sự cân bằng các chất dinh dưỡng.


- Liều lượng: cho cá ăn từ 3 – 4 lần/ngày vào lúc sáng sớm, trưa, chiều mát, lượng thức ăn chiếm từ 7 – 10% trọng lượng đàn cá trong lồng. Căn cứ vào tình trạng sức khoẻ cá, điều kiện môi trường, trọng lượng đàn cá để điều chỉnh lượng thức ăn hàng ngày.

+ Khi cá có dấu hiệu bị nhiễm bệnh hay bị bệnh, giảm lượng thức ăn 30 – 50%.

+ Khi điều kiện môi trường, thời tiết bất lợi như: sóng to gió lớn, nước nhiều cặn bã, địch hại, pH giảm, độ mặn thay đổi, mưa lớn kéo dài, trời trở lạnh… cần giảm lượng thức ăn.

+ Có thể sử dụng dầu gan mực trộn vào thức ăn để kích thích cá bắt mồi nhanh và ăn mạnh.


- Phương pháp cho ăn: trước khi cho cá ăn, rung nhẹ giá thể để cá rời nơi ẩn náu, đồng thời tạo thành phản xạ tự nhiên cho cá. Sau đó thức ăn được rãi từ từ và khắp lồng nuôi để cá bắt mồi khi còn lơ lững, tránh để thức ăn tích tụ ở đáy lồng.


- Ngoài ra, có thể bổ sung thêm mồi tươi sống cho cá bằng cách thả cá Suốt, cá rô Phi nhỏ vào lồng.


- Trong quá trình ương cá, cần thắp đèn điện cho lồng vào ban đêm để thu hút các phiêu sinh vật, sinh vật nhỏ vào lồng, đây là nguồn thức ăn tự nhiên rất tốt cho cá.


d. Phân cỡ cá

Đây là công việc cần thiết và quang trọng góp phần nâng cao tỷ lệ sống và sức khỏe cá nuôi. Cá đồng kích cở trong 1 nhóm rất khó ăn nhau và sinh trưởng tương đối đồng điều.

- Định kỳ từ 7 – 10 ngày tiến hành phân cỡ 1 lần. Phân cá thành các nhóm kích cỡ khác nhau, mỗi cỡ được thả ương riêng một lồng. Có thể tiến hành theo một trong 2 cách sau đây:

+ Gom lưới dồn cá vào 1 góc, dùng các loại rổ hay khay có đục lổ với kích cỡ rổ lớn nhỏ khác nhau để vớt lọc cá, thường lọc lấy nhóm cá có kích cỡ lớn trước.

+ Gom lưới dồn cá vào 1 góc hay cho cá vào bể, sau dó phân cỡ cá bằng cảm quan.


- Các thao tác tiến hành phải nhẹ nhàng, cẩn thận, tránh làm cá bị tổn thương và không nên phơi cá lâu ngoài không khí. Nên kết hợp phân cỡ với tắm cá bằng cách nhúng cá được lọc ở trong rổ vào dung dịch oxytetracyline (100g/m3), thuốc tím (10 g/m3) hay iodine trước khi thả cá vào lồng ương mới.


Kỹ thuật ương giống cá mú by Trung tam KNKN Kiên Giang.




Đăng ký: Bài đăng

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Đời Sống & Sức Khỏe

Nguồn Tin Cập Nhật

Tags

Shrubby St. John's Wort