Tin tức nông nghiệp

Thứ Ba, 22 tháng 12, 2020

Cải xoong


Cải xoong
True Watercress,Nasturtium officinale

 Watercress - True Water - Fairbanks Seeds



Cải xoong
Watercress
Nasturtium officinale,NAS00048

Giống cải xoong thủy sinh lá bầu dục có tốc độ tăng trưởng cao. Lá hình bầu dục của nó có một hương vị cay cho một thành phần món salad tuyệt vời.




Thứ Hai, 21 tháng 12, 2020

Bạc hà Á - Wild Mint

Mentha arvensis

SEINet Portal Network - Mentha arvensis


Bạc hà Á

Wild Mint,Mentha arvensis,MEN00043
Bạc hà Á
Wild Mint
Mentha arvensis,MEN00043
Bạc hà á hay bạc hà, bạc hà nam, bạc hà nhật bản, húng cay, húng bạc hà (Mentha arvensis) thuộc chi Bạc hà.
Bạc hà á phân bổ tự nhiên các vùng có nhiệt độ ấm thuộc châu Âu, Tây Á và Trung Á, Himalaya cho đến đông Xibia và Bắc Mỹ.
Hoa màu tím nhạt, trắng hoặc hồng, mọc thành cụm trên thân, mỗi hoa dài 3–4 mm.
Bạc hà á là cây thân thảo, lâu năm,cao 10–60 cm (đôi khi đạt 100 cm). Lá đơn, mọc đối xứng, dài 2– 7cm ,rộng 1–2 cm, có lông, viền lá có răng cưa thô.
Đặc Tính Cây Bạc hà á
Đặc tính
Hoa ,Thảo Dược
Chiều cao
60
Khoảng cách cây
30-60 cm
Mùa hoa:
Tháng Bảy - Tháng Chín
Hoa
Trắng
Ánh sáng
Nhiều hoặc vừa
Nước
Ẩm hoặc vừa
Sử dụng
Chữa bệnh, Hoa
Thu hút
Ong, Bướm

Công Dụng Bạc hà á
Trong ẩm thực Ấn độ, Bạc hà á được coi như món khai vị và hữu ích chữa những rắc rối của dạ dày.
Tại châu Âu, bạc hà hoang dã được sử dụng để điều trị đầy hơi, khó tiêu, vấn đề túi mật và ho. Người Aztec sử dụng cho mục đích tương tự và làm đổ mồ hôi ,chữa bệnh mất ngủ.
Chiết xuất bạc hà và tinh dầu bạc hà được sử dụng trong thực phẩm, đồ uống, thuốc ho, thuốc kem và thuốc lá.
Ngoài ra , Mentha arvensis được sử dụng rộng rãi trong việc chăm sóc răng miệng như một chất kháng khuẩn tại chỗ.

Thứ Năm, 17 tháng 12, 2020

Cúc Feverfew - Tanacetum parthenium

Tanacetum parthenium

Cúc Feverfew


Mã
TAN00018
Latin
Tanacetum parthenium
Tiếng Anh
Featherfew. Featherfoil. Flirtwort. Bachelor's Buttons
Tiếng Việt
Cúc Thiên Đầu Thống
Công dụng :
Featherfew
Feverfew , Tanacetum parthenium L, thuộc họ Cúc (Asteraceae)  là loại thảo dược rất hiệu quả trong việc điều trị chứngđau nửa đầu kinh  niên không rõ nguyên nhân.

Thời gian trồng thích hợp : Hè
Ngày trưởng thành :  85
Chiều cao : 60 cm
Ánh sáng : Chịu nắng
Độ ẩm : Ẩm ướt, thoát nước tốt
Đất : Trồng được trên nhiều loại đất khác nhau.
Công dụng : làm cảnh, trị bệnh,chống muỗi.
1 g ~ 5000s
Tip : Trồng cây Fewer rất dễ, tốt nhất khi thời tiết ấm áp , gieo trực tiếp trên đất có nắng và ít gió . Cây có thể tự mọc lại từ hạt giống của mình.

Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2020

Tình Yêu Trong Sương Mù


 
Tình Yêu thì lúc nào cũng đẹp mong manh và đầy bí ẩn , nên nếu có một loài hoa tượng trung cho tình yêu tôi sẽ chọn hoa Bảo thạch Ba tư hay Hoa kim cương .NgườI Âu gọI nó là Love in a Mist (tình yêu trong sương mù do vẻ đẹp nao lòng đầy quyến rũ của nó.

Hoa tình yêu Nigella có màu xanh, thỉnh thoảng màu trắng ,tím nhạt , xanh đậm. Nhị hoa màu tím. Lá kim, mọc tua tủa quanh thân. Cây trưởng thành mọc thành bụi, có thể cao tới 50cm.
Hoa tình yêu Nigella không chỉ đẹp, mà còn có nhiều công dụng trong y học (trị chứng khó tiêu, chán ăn, chữa mẩn ngứa, đau khớp, viêm khớp). Nigella còn được sử dụng làm gia vị, làm mứt. ( Theo Bách khoa thư )
Cùng ngắm một số hình ảnh vẻ đẹp nao lòng của Bảo thạch Ba tư




Hoa tinh yeu doc la “don tim” khach hang nu
 
Hoa thích hợp sinh trưởng tốt ở điều kiện khắc nghiệt, việc gieo trồng không quá khó khăn, tuy nhiên, thời điểm thuận lợi nhất để gieo hạt dễ nảy mầm là lúc thời tiết mát mẻ.
Hoa tinh yeu doc la “don tim” khach hang nu-Hinh-9
Cụ thể, tháng ba, tháng tư, tháng 9 và tháng 10 có thể gieo hạt giống hoa kim cương.
Hoa tinh yeu doc la “don tim” khach hang nu-Hinh-10
Hạt nên được gieo ở đất mùn, tơi xốp, phủ 1 lớp đất rất mỏng lên trên, để ở nơi mát, không có ánh sáng trực tiếp chiếu vào.
Hoa tinh yeu doc la “don tim” khach hang nu-Hinh-11
Sau khoảng 10 ngày, hạt nảy mầm. Khi cây non có lá, thì nên chuyển cây ra nơi có ánh sáng chiếu tới, thoáng gió và chậu đất lớn hơn để đảm bảo dinh dưỡng.
Hoa tinh yeu doc la “don tim” khach hang nu-Hinh-12
Tưới nước cho hoa 1-2 lần/tuần vào những ngày nắng nóng, khô hanh. Tuy nhiên, nên đảm bảo nước tưới thoát tốt, không ứ đọng. Mỗi tháng một lần nên bón phân cho cây, tránh để tiếp xúc sương giá.
Hoa tinh yeu doc la “don tim” khach hang nu-Hinh-13
Quả khô của cây sẽ cho hạt giống tốt nếu chúng được bảo quản tốt (tránh nước, để nơi khô ráo và được phơi cẩn thận). Ngoài ra, hoa kim cương có thể để khô được khá lâu.



















Thứ Tư, 16 tháng 9, 2020

Trà Vinh: 1 trái dừa sáp giá bằng nửa tạ thóc - nongthonviet.com

nongdan24g @ nguontinviet.com


Một trái dừa sáp loại 1 có giá đến 250.000 đồng, tương đương hơn 50 kg lúa được bán tại đồng. Dù giá dừa sáp đắt đỏ như thế, nhưng vì tính “quý hiếm” nên du khách vẫn bỏ tiền ra để niếm thử loại trái cây độc nhất vô nhị ở miền Tây này.

Đến thị trấn Cầu Kè (tỉnh Trà Vinh) dọc theo quốc lộ 54 có nhiều điểm bán dừa sáp (cả dừa giống và dừa trái để ăn – PV). Có điểm bán để nguyên trái dừa sáp bán cho du khách, có chỗ lột hết lớp vỏ ngoài trái dừa và dùng dao cạo bóng loáng phần gáo dừa rồi cho vào túi cước xanh trông rất bắt mắt.

Anh Vinh Hoà – một chủ bán dừa sáp vui vẻ cho biết: “Nhắc đến dừa người ta nghĩ đến Bến Tre nhưng nói đến dừa sáp là phải nói đến huyện Cầu Kè của Trà Vinh. Tuỳ theo đường kính, độ dày mỏng của cơm dừa người ta chia ra làm 3 loại: loại 1 có giá từ 240.000 – 250.000 đồng/trái; loại 2, loại 3 từ 120.000 – 200.000 đồng/trái. Dù giá cáo nhưng sản phẩm này vẫn đắt như tôm tươi.”

Anh Vinh Hoà vừa bán dừa trái và cả dừa sáp giống

Anh Vinh Hoà vừa bán dừa trái và cả dừa sáp giống

Ngoài ra, Anh Vinh Hoà còn cho biết, dừa sáp có thể trồng ở các tỉnh khác, tuy nhiên tỷ lệ cho trái dừa sáp thấp hơn khi dừa được trồng tại vùng đất Cầu Kè khoảng 10 – 20%. Trung bình 1 quầy dừa sáp có 12 trái có thể tìm được 3 – 4 trái dừa sáp là cao. Từ hiệu quả kinh tế cao (1 ha dừa sáp có thể thu lời từ 90 – 100 triệu đồng/ năm) nên dừa sáp giống không ngừng tăng lên từ mức 70.000 – 80.000 đồng/ cây, nay tăng lên 100.000 đồng/cây nhưng rất được người dân ở trong và ngoài tỉnh quan tâm.

Theo Phòng NNPTNT huyện Cầu Kè, dừa sáp được trồng rải rác trên địa bàn các xã, thị trấn Ninh Thới, Hòa Ân, Thông Hòa, Phong Phú, Phong Thịnh, Châu Điền… trong đó được trồng tập trung nhiều nhất ở xã Hòa Tân với tổng diện tích 22.000ha trên tổng số 25.000ha toàn tỉnh.

Mấy năm gần đây để tiện cho du khách anh Vinh Hoà lột hết phần vỏ và cho trái dừa vào túi cước bắt mắt như thế này

Mấy năm gần đây để tiện cho du khách anh Vinh Hoà lột hết phần vỏ và cho trái dừa vào túi cước bắt mắt như thế này

Từ thực tế, cây dừa sáp “truyền thống” cho tỷ lệ trái sáp không cao, tối đa chỉ khoảng 30% so với tổng số trái trong mỗi buồng dừa nên mới đây Sở Khoa học-Công nghệ tỉnh Trà Vinh đã triển khai dự án trồng 50ha dừa sáp ở xã Hòa Tân. Đồng thời phối hợp với Trung tâm Thực nghiệm Đồng Gò (Bến Tre) nghiên cứu và đã thử nghiệm thành công cách thụ phấn trợ lực cho cây dừa sáp làm tăng tỷ lệ sáp trên buồng dừa. Và Sở phối hợp với Viện Nghiên cứu dầu thực vật-hương liệu-mỹ phẩm Thành phố Hồ Chí Minh để lo đầu ra cho loại trái cây độc nhất ở miền Tây này.

Hiện trái dừa sáp ở Trà Vinh được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa cùng 3 loại trái cây đặc sản khác là: măng cụt của Hợp tác xã Tân Thành; xoài Châu Nghệ của Hợp tác xã xoài Châu Nghệ và quýt đường của Hợp tác xã Thuận Phú.




Đăng ký: Bài đăng

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2020

Giá lúa thấp hơn giá ốc bươu vàng



Giá lúa thấp hơn giá ốc bươu vàng


Đọc bản tin này tôi không thể không nghĩ đến và ngậm ngùi cho thân phận của bà con nông dân ở quê tôi, nơi mà giá lúa đang bị hạ thấp đến độ vô lý, nhưng không ai chịu trách nhiệm. Vấn đề không ở chỗ giá lúa cao quá hay thấp quá mà ở tính hợp lý và hài hoà lợi ích của giá đó, và mọi sự bất hợp lý, không hài hoà của chính sách – gắn với chính khách, đều phải có cơ chế để đặt vấn đề trách nhiệm.
nongdan24g @ nguontinviet.com

Ốc bươu vàng hại lúa bán còn được giá hơn lúa. An ninh lương thực ở đâu?
Ốc bươu vàng hại lúa bán còn được giá hơn lúa. An ninh lương thực ở đâu?


Ốc bươu vàng hại lúa bán còn được giá hơn lúa. An ninh lương thực ở đâu? Ốc bươu vàng hại lúa bán còn được giá hơn lúa. An ninh lương thực ở đâu? Quê tôi ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Đó là vùng đất được ví von là vựa lúa của Việt Nam, và có thể là một vựa lúa lớn trong vùng Đông Nam Á. Để có cái danh hiệu đó, người dân quê tôi phải bán mặt cho đất bán lưng cho trời trên những cánh đồng.

Suốt năm này sang năm khác, người nông dân ở đây phải đương đầu với rất nhiều thiên tai, thảm hoạ, và vì thế cuộc sống của họ càng ngày càng chật vật hơn.

Vài năm trước, vùng ĐBSCL kinh qua một thảm nạn có tên là “ốc bươu vàng”. Đó là loại ốc do ai đó vì lý do nào đó đã “du nhập” từ Trung Quốc hoặc Đài Loan về Việt Nam. Những con ốc sinh sôi nảy nở với tốc độ chóng mặt. Chúng cũng tàn phá ruộng lúa theo tốc độ cấp số nhân. Những cây lúa chưa kịp lớn đã bị chúng “cắt” ngang.

Trong một thời gian dài, nông dân quê tôi khốn đốn với chúng, nhìn lúa bị huỷ hoại mà không làm gì được. Có năm, như 2010, có hàng chục ngàn hecta bị chúng phá sạch. Chẳng ai chịu trách nhiệm.

Trong khi đó thì người dân phải tìm cách đối phó. Đến vài năm sau người ta mới tìm thấy “tác dụng” của ốc bươu vàng: làm thức ăn cho vịt. Thế là bà con nông dân, kể cả trẻ con, đi ruộng bắt ốc bươu vàng bán cho các trại nuôi vịt. Nhưng ốc bươu vàng được xem là thứ “rác rưởi”, như cây cỏ, nên giá bán cũng rất thấp.

Nhưng điều trớ trêu ngày nay là ốc bươu vàng có giá trị hơn… lúa. Lần đầu tiên trong lịch sử, giá lúa rẻ hơn giá ốc bươu vàng! Khi nghe bà con chòm xóm bàn tán và so sánh một cách hài hước, tôi nghĩ họ chỉ nói đùa cho vui.

Nhưng không, lúa ở quê tôi (và vùng ĐBSCL nói chung) có giá trị thấp hơn ốc bươu vàng. Đó là một thực tế. 1kg ốc bươu vàng giá 15.000 đồng. 3kg lúa chỉ khoảng 10.000 – 12.000 đồng.

3kg lúa không bằng 1kg ốc bươu vàng. Tôi không biết có nơi nào mà người ta có thể ăn ốc bươu vàng thay cho gạo.

Tôi cũng không biết có nơi nào trên thế giới mà giá lúa thấp hơn giá ốc bươu vàng, vốn được xem là một loại rác sinh học.

Người nông dân quê tôi vốn nghèo nay càng nghèo hơn. Trước khi sạ lúa, bà con đã phải vay tiền (từ ngân hàng hay bạn bè, thân nhân) để mua phân bón, thuốc trừ sâu. Giá phân bón và thuốc trừ sâu lúc nào cũng gia tăng theo thời gian.

Thành ra, bây giờ khi thu hoạch lúa xong, với cái giá bèo đó thì họ hoặc là lỗ hoặc là huề vốn. Có người sau một mùa vụ thì trắng tay vẫn hoàn trắng tay. Tình trạng này rất nhất quán với con số của tổng cục Thống kê, rằng trong số những người nghèo nhất nước, 83% là nông dân. Đó là con số đáng báo động.

Chính phủ có nghị quyết “về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia” và “đảm bảo người sản xuất lúa gạo có lãi trên 30% so với giá thành sản xuất”. Con số lời 30% có lẽ ru ngủ nhiều người và đẹp trên trang giấy, nhưng trong thực tế thì giá lúa tính chung giảm 30% từ năm 2011 – 2012. Sở dĩ có tình trạng này là do người nông dân bị ép giá khi mới thu hoạch.

Vì phải thanh toán nợ nần nên họ đành phải bán lúa dưới giá sàn. Hậu quả là những con thương hưởng lợi. Thống kê cho thấy trong hai năm 2008 – 2009, Việt Nam xuất khẩu gần 11 triệu tấn gạo trị giá 5,5 tỉ USD, và tính trung bình giá xuất khẩu là 10.360 đồng/kg.

Trong khi đó giá mua thì chỉ 7.000 đồng/kg. Như vậy, giá xuất khẩu và giá mua chênh lệch đến 3.360 đồng/kg lúa!

Ai là người hưởng lợi? Để trả lời câu hỏi này, có thể nhìn qua quy trình buôn bán lúa và xuất khẩu gạo. Xong mùa vụ, nông dân bán lúa cho các thương lái nhỏ (thường đi bằng ghe trên sông). Các thương lái nhỏ này bán cho thương lái lớn.Trong quá trình đó lúa có thể bị pha trộn và giảm chất lượng.

Thêm vào đó là chính sách tạm trữ lúa gạo của Nhà nước vô hình trung tạo cơ hội cho các doanh nghiệp mua lúa và tạm trữ. Các doanh nghiệp này, dù đã được hưởng lợi từ Nhà nước, chọn thời điểm để ép giá lúa, và hệ quả là người nông dân lãnh đủ.

Đã có người đề cập đến “nhóm lợi ích nông nghiệp”, và đã đến lúc phải xác minh và nhận dạng nhóm này để thực thi nghị quyết của Chính phủ.

Với tình trạng như thế thì chẳng ai ngạc nhiên khi thấy cha mẹ “quyết không để con làm ruộng”. Thu nhập của nông dân nếu tính ra còn thấp hơn thu nhập của công nhân trong các hãng xưởng.

Do đó, không ai ngạc nhiên khi phụ nữ xếp hàng đi lấy chồng Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc (một số thì bị chết thảm), và vấn nạn này là một quốc nhục.

Trong khi đó, nam thanh niên thì đi lang bạt làm thuê ở các khu kỹ nghệ khắp nước. Có nơi (như Thới Bình, Cà Mau) chỉ trong vòng sáu tháng có hàng ngàn thanh niên bỏ huyện đi làm ở các tỉnh khác. Ngày nay, đến mùa gặt lúa nông thôn rất khó tìm nhân công.

Thêm vào đó là sự tăng trưởng dân số cộng với sự thiếu quy hoạch, đã gây nên sức ép môi trường ghê gớm. Hệ quả là môi trường sống và môi trường canh tác càng ngày càng xấu đi một cách nghiêm trọng. Ở quê tôi, không ai dám tắm sông. Có thể nói không ngoa rằng nền tảng nông thôn vùng ĐBSCL đã và đang lung lay.

Những người dân thuộc vùng ĐBSCL đã đưa Việt Nam thành một trong những nước xuất khẩu gạo và nông sản hàng đầu thế giới. Họ đã đóng góp và đem về cho ngân sách hàng tỉ USD mỗi năm. Ấy thế mà người dân vùng ĐBSCL bị thiệt thòi nhất nước.

Đánh giá qua bất cứ chỉ tiêu nào (giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng, đường sá, nhà ở, v.v.), ĐBSCL thường đứng hạng chót hay áp chót. Đối với người dân ở đây, câu nói ĐBSCL là “vùng đất trù phú” chỉ là huyền thoại và là một sỉ nhục.

Một quan chức cao cấp thuộc vùng ĐBSCL từng giải thích sự sa sút của vùng đất lúa gạo này: “ĐBSCL ở xa Trung ương quá, lâu lâu bộ mới vào một lần. Trung ương mà không sớm thay đổi chính sách, bỏ rơi thì miền Tây không thoát nghèo được”. Có lẽ chính vì “xa mặt trời” nên tình trạng lúa có giá trị thấp hơn ốc bươu vàng ở vùng ĐBSCL chẳng ai chú ý và chịu trách nhiệm.

Không chỉ rẻ hơn giá ốc bơm vàng, giá lúa tại ĐBSCL chỉ ngang bằng với giá rơm – thứ phế phẩm lâu nay chỉ dùng để đốt hoặc làm thức ăn cho trâu, bò khiến nhiều gia đình trồng lúa chỉ để… thu rơm.

“Trồng lúa nếu chỉ bán thóc thì dân vùng này thua lỗ nhiều lắm. Cái khó ló cái khôn, người dân dùng rơm để tăng đàn bò. Hầu như hơn 1.000ha đất lúa ở vùng này, sau khi thu hoạch thì rơm rạ đều được thu hoạch để dự trữ cho bò. Vụ đông xuân, rơm có giá đến 7 triệu đồng/ha. Vụ hè thu do có mưa, chất lượng rơm hơi kém nên giá thấp hơn chút đỉnh” – Ông Trần Văn Nở – Phó Chủ tịch UBND xã Tân Xuân (huyện Ba Tri, Bến Tre) cho biết.

Theo tính toán của người dân Tân Xuân, mỗi vụ lúa tiền lãi từ hạt thóc đang thấp hơn rất nhiều so với “đồ bỏ đi” là rơm rạ.

“Mấy vụ lúa vừa rồi ai làm huề vốn là may rồi. Như nhà tôi thu rơm về nuôi bò, thì nhờ rơm mới lời 30% chứ không phải là nhờ hạt lúa. Nếu lúa bán không được, thì đừng nói cho vịt, chúng tôi xay ra cho bò ăn cũng được, vì dù gì bò sữa cũng cần bổ sung thức ăn giàu tinh bột” – Lão nông Cao Văn Em – ngụ ấp Tân Thị, xã Tân Xuân cho biết.

Cũng vì thế mà vài năm nay, thu hoạch xong thay vì đốt rơm để vệ sinh ruộng đồng thì nông dân thường tận thu bằng cách bán luôn rơm ngay tại ruộng.

Rơm khô được người ta thu mua về làm nấm rơm, chế biến các sản phẩm thủ công, chất thành cây dự trữ cho trâu bò ăn.

Đối với nhiều vựa mua bán rơm chuyên nghiệp, thứ tưởng chừng như vứt đi này được bán để lót các sản phẩm gốm sứ cao cấp, hoặc bán cho các doanh nghiệp mua bán trái cây.

(Theo Danviet) Nguyễn Văn Tuấn/SGTT





Đăng ký: Bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2020

Hấp dẫn trang trại cà phê chồn - nongthonviet.com

nongdan24g @ nguontinviet.com


Sau một thời gian khảo sát tìm hiểu, ông Nguyễn Quốc Minh từ TP.HCM đã quyết định lên Đà Lạt (Lâm Đồng) đầu tư 42 tỷ đồng để xây dựng trang trại trồng cà phê sạch – nuôi chồn và sản xuất chế biến cà phê chồn.

Ghé thăm trang trại cà phê của ông Nguyễn Quốc Minh tại số 135E Hoàng Hoa Thám, phường 10, TP.Đà Lạt, chúng tôi được nghe ông kể về huyền thoại cà phê chồn cũng như ấp ủ hình thành trang trại của mình.










Hạt cà phê dưới tác dụng của các enzyme trong dạ dày chồn hương sẽ có hương vị đậm đà hơn.

Hạt cà phê dưới tác dụng của các enzyme trong dạ dày chồn hương sẽ có hương vị đậm đà hơn.


Thứ Hai, 22 tháng 6, 2020

Mô hình nuôi cá Điêu Hồng vèo


Mô hình nuôi cá điêu hồng vèo

 


1. Tổng quan

- Vị trí đặt vèo: Đặt vèo lưới trong ao hay trên kênh rạch có mặt nước thoáng rộng, có nguồn nước sạch. Nếu căng vèo trong ao thì ao phải có cống cấp và thoát nước, được thay đổi nước mới thường xuyên. Mực nước trong vèo ổn định chừng khoảng 1 m. Đáp ứng các yêu cầu trên, có thể thả cá điêu hồng giống theo kích cỡ và mật độ như sau: Cỡ cá có chiều dài trung bình 3 – 5cm/con, thả 60 – 70con/m3vèo nuôi. Cỡ cá có chiều dài trung bình 5 – 7cm/con, thả 50 – 60con/m3 vèo nuôi.

- Thời điểm thả giống: tốt nhất là lúc trời mát, cho túi chứa cá vào bên trong vèo lưới, ngâm chừng 20 – 30 phút để cho cá quen dần với nhiệt độ môi trường nước. Tại nơi thả cá giống có thể cho một ít muối hột hoặc thuốc kháng sinh để sát trùng cá. Sau đó kéo mạnh hai góc đáy túi cho cá bơi ra toàn bộ. Nếu vận chuyển cá bằng các dụng cụ khác thì cách tắm cá cũng thực hiện như trên.

2. Quản lý chăm sóc

- Cần phải thường xuyên thay cấp nước sạch, theo dõi màu sắc, mùi vị… của nước để tránh hiện tượng nước bị nhiễm độc chất hữu cơ hay bị thiếu oxy. Thường xuyên kiểm tra theo dõi tình trạng ăn mồi của cá, động thái bơi lội, màu sắc cá…

- Loại thức ăn: Thức ăn cho cá điêu hồng thiên về nguồn gốc thực vật như cám, bắp xay nhỏ, bã đậu, bèo tấm, rau muống…, Nói chung cá điêu hồng có thể ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, đây là đặc điểm thuận lợi cho nuôi thâm canh. Nhưng do thả cá nuôi trong vèo với mật độ cao, nên cần thiết phải sử dụng thức ăn dạng viên để dễ dàng kiểm soát lượng thức ăn thừa và hạn chế sự thất thoát thức ăn cũng như kiểm soát được chất lượng nước ao nuôi. Thức ăn công nghiệp được sản xuất tại những hãng có uy tín thường có đầy đủ thành phần cơ bản bao gồm các chất dinh dưỡng cần thiết như đạm, vitamin, lipid….

- Số lần cho ăn trong ngày: Theo ý kiến của những người nuôi cá lâu năm, nên cho cá điêu hồng ăn nhiều lần, có thể 3 – 4lần/ngày, vì cá có tập tính khi đói thì lên tầng trên bắt mồi, lúc đã ăn no mồi thì bơi xuống tầng dưới. Cũng theo ý kiến của các nhà chuyên môn, thì cho cá ăn với lượng thức ăn thay đổi theo cỡ cá tăng trọng. Khi còn nhỏ lượng thức ăn chiếm 5 – 7%/trọng lượng cá/ngày, khi cá lớn cho ăn khoảng 2 – 3%. Thường xuyên kiểm tra lượng thức ăn để có thể điều chỉnh kịp thời.

3. Một số bệnh thường gặp ở cá điêu hồng và cách phòng trị

a) Bệnh do ký sinh trùng:

- Các bệnh do ký sinh trùng thường gặp là: bệnh đốm trắng (trùng quả dưa tấn công), bệnh do trùng mặt trời và tà quản trùng, bệnh do sán lá đơn chủ, bệnh do giáp xác ký sinh (Argulus và Ergasilus).

- Cách phòng: Vèo nuôi phải được tẩy rửa vệ sinh để nước trong và ngoài vèo luôn lưu thông. Thường xuyên rải muối hột để sát trùng nước, nồng độ 0,5% trị thời gian dài và 1-2% trong 10-15 phút.

- Cách điều trị: Khi phát hiện cá bị bệnh cần xử lý bằng: Formol nồng độ 25 – 30ml/m3, trị thời gian dài và nồng độ từ 100-150ml/m3 nếu trị trong 15-30 phút; CuSO4(phèn xanh) nồng độ 2 – 5g/m3 trị thời gian dài và từ 20 – 50g/m3 trong thời gian 15 – 30 phút.

b) Bệnh đỏ kỳ đỏ mỏ:

- Bệnh do vi khuẩn Aemomas hydrophia hoặc Edwardsiella tarda gây ra. Cá có dấu hiệu toàn thân xuất huyết, hậu môn sưng lồi, bụng trương to, có dịch vàng hoặc hồng, đầu và mắt cá sưng và lồi ra.

- Cách phòng: Biện pháp đề phòng là tránh thả cá nuôi và hạn chế thay nước lúc giao mùa. Thường xuyên cho cá ăn vitamin C để tăng sức đề kháng.

- Cách điều trị: Bón vôi và khử trùng nước, có thể trộn thuốc kháng sinh vào thức ăn cá, tỷ lệ tuỳ theo tình trạng bệnh. (Chỉ sử dụng những loại kháng sinh được Bộ Thủy sản cho phép).

c) Bệnh trương bụng do thức ăn:

- Thường xảy ra ở các ao, bè do cá ăn thức ăn tự chế không được nấu chín, không đảm bảo chất lượng làm cá không tiêu hóa được, bụng cá trương to, ruột chứa nhiều hơi. Cá bơi lờ đờ và chết rải rác.

- Biện pháp khắc phục là kiểm tra chất lượng và thành phần thức ăn để điều chỉnh lại cho thích hợp. Thường xuyên bổ sung men tiêu hóa (các probiotie…) vào thức ăn.

kythuatnuoitrong@nguontinviet.com


 Trung tâm Khuyến nông An Giang. Đăng ký: Bài đăng

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2020

Kinh nghiệm nuôi cá Điêu Hồng trong ao



Kinh nghiệm nuôi cá Điêu Hồng trong ao

 

Cá diêu hồng còn có nhiều tên gọi khác là cá điêu hồng hay cá rô phi đỏ. Đây là loài cá thuộc họ cá rô và sống nước ngọt. Loài cá này được nuôi nhiều nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đây là loài ăn tạp và khá dễ nuôi.
Hiện nay, nhiều người đã chọn cá diêu hồng để nuôi và phát triển kinh tế của mình. Có rất nhiều mô hình nuôi cá diêu hồng được thực hiện như: nuôi trong ao đất, nuôi trong bể xi măng, nuôi trong lồng hay nuôi trong hệ Aquaponics…

 

 kỹ thuật nuôi cá diêu hồng

 

Ông Nguyễn Văn Thiền, ngụ ấp Mỹ Khánh, xã Mỹ Hòa Hưng nuôi cá điêu hồng mang lại thu nhập cao, cải thiện cuốc sống gia đình. Sau đây là những kinh nghiệm về kỹ thuật nuôi mà anh có được sau một vụ nuôi. Ông Thiền chia sẻ: Cá điêu hồng hay còn gọi là cá rô phi đỏ, kỹ thuật nuôi tương tự như nuôi các loài cá nước ngọt khác, tuy nhiên cần lưu ý các điểm cơ bản sau:


- Về môi trường sống: cá điêu hồng thích hợp với nguồn nước có độ pH – 6,2 – 7,5, khả năng chịu phèn kém nhưng có thể phát triển tốt ở vùng nước nhiễm mặn nhẹ 5 – 12‰ cá sống trong mọi tầng nước.


- Cá điêu hồng ăn tạp thiên về thực vật và có thể ăn mùn bả hữu cơ, do đó nguồn thức ăn cho cá rất đa dạng, bao gồm các loại cám thực phẩm, khoai củ, ngũ cốc,… ngoài ra có thể tận dụng các nguyên liệu phụ phẩm từ các nhà máy chế biến thủy sản (nhu vỏ tôm, râu mực, đầu cá,….) hay các phấn phẩm lò giết mổ gia súc để chế biến thành các nguồn thức ăn phụ cung cấp cho cá nuôi. Mặt khác có thể chọn loài ốc bươu vàng làm nguồn thức ăn tươi sống để cho cá ăn.


- Ao nuôi: phải được thực hiện các bước cải tạo theo tuần tự như sau: bơm cạn nước, vét bùn nền đáy ao, bón vôi khử phèn độc tố tiềm tàng trong ao với liều lượng từ 10 – 15 kg/100m2, phơi ao khoảng 1 tuần rồi tiến hành cấp nước sạch vào ao qua cống có ngăn lưới ở miệng công không cho cá tạp và cá dữ vào ao nuôi. Chọn ao có diện tích từ 500 – 1.000m2, độ sâu từ 0,8 – 1,5m và phải chủ động cấp thoát nước khi cần thiết.


- Mật độ: có thể nuôi đơn cá điêu hồng trong một ao hoặc nuôi ghép với nhiều loại cá khác như: cá sặc rằn, cá chép, cá hường, cá rô phi vằn… Nếu nuôi cá điều hồng là chủ yếu: nên nuôi với mật độ từ 5 – 8 con/m2.


- Lượng thức ăn: tùy theo mức độ sử dụng của cá, trung bình bằng 5 – 7% trọng lượng cá, cần bố trí các sàn ăn trong ao để kiểm tra lượng thức ăn hàng ngày, sử dụng nhiều sàn ăn để cá lớn, cá nhỏ đều được ăn. Tránh dư thừa thức ăn gây lãng phí và ô nhiễm nguồn nước, lượng thức ăn nên chia làm 2, cho ăn vào buổi sáng sớm và buổi chiều mát. Theo dõi thường xuyên tình hình nước trong ao (màu sắc, mùi vị …). Nếu thấy nước bẩn thì cần phải thay nước sạch cho ao nuôi tránh hiện tượng thiếu oxy.


- Thu hoạch: cá nuôi khoảng 7 – 8 tháng là có thể thu hoạch được, vào thời gian này cá đạt trọng lượng từ 0,4 – 0,6kg/con, nếu được chăm sóc tốt, trong trường hợp cá lớn đều thì thu hoạch 1 lần, nếu không đều thì thu hoạch những con lớn trước, con nhỏ để lại nuôi tiếp 1 – 2 tháng sau sẽ thu hoạch tiếp.


Kinh nghiệm nuôi cá điêu hồng trong ao by Cty Hùng Vương Tây Nam.



Đăng ký: Bài đăng

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2020

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến Ngành Nông nghiệp




Theo báo cáo của Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc (FAO) hiện nay nhiệt độ trái đất tăng bình quân hàng năm là 0,5 độ C, mà theo các nhà khoa học cho biết nếu nhiệt độ tăng 1 độ C thì sản lượng lương thực sẽ giảm đi tương đương 10%.  @ nguontinviet.com



I. Những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

- FAO cũng cho rằng Việt Nam nói chung và Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long – vựa lúa của cả nước sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu gây ra; trong đó Bạc Liêu là 1 trong 3 tỉnh bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất. Trong thời gian không xa một diện tích đất nông nghiệp khá lớn sẽ bị nhấn chìm bởi nước biển dâng.

- Biến đổi khí hậu hàng ngày, hàng giờ đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng. Nó đã thể hiện ngay trước mắt chúng ta, như hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh một số Quận ngoại thành nước triều dâng đã gây ngập úng cục bộ nhiều vùng dân cư gây nhiều khó khăn cho người dân, chẳng khác nào sống trong vùng lũ lụt. Hiện tượng El Nino đã làm cho các tỉnh Miền Bắc bị hạn hán kéo dài, miền Nam và Tây nguyên mùa khô đến sớm và không có mưa nghịch mùa như những năm trước, mùa mưa đến chậm hơn 1 tháng và lượng mưa phân phối không đều giữa các vùng làm cho cây trồng, vật nuôi phát triển kém, dịch bệnh nhiều hơn. Nhiều loại hoa chỉ nở về mùa hè nay do nhiệt độ cao lại nở rực rỡ ngay đầu xuân như Bằng Lăng, Phượng Hồng, Hoàng Hậu, Diệp vàng…

- Có lẽ biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt nhất đến an ninh lương thực, do dân số tăng nhanh, trong khi một diện tích đất nông nghiệp sẽ bị giảm đi do: đô thị hóa, nhà ở nông thôn tăng, công nghiệp phát triển chiếm khá lớn đất và lớn nhất là một diện tích đất trồng lúa sẽ bị nhấn chìm do nước biển dâng cao.

II. Giải pháp đồng bộ ứng phó biến đổi khí hậu

1. Giải pháp về thủy lợi

Thấy được hậu quả của biến đổi khí hậu sẽ làm dâng cao mực nước hàng năm giải pháp đầu tiên về thủy lợi phải được gia cố, tu sửa hoặc đào đắp. Chính phủ đã và đang đầu tư hàng ngàn tỷ đồng để xây dựng và nâng cấp hệ thống đê biển và hệ thống cống ngăn mặn ven theo bờ biển các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Hà Tiên, hệ thống cống đập ngăn mặn nội đồng thuộc các tỉnh bị ảnh hưởng bởi nước mặn. Thành lập và củng cố Ban điều tiết nước của Khu vực và của các tỉnh để điều tiết việc đóng mở các cống liên huyện, liên tỉnh để vừa đảm bảo có đủ nước mặn cho nuôi trồng thủy sản, lại không ảnh hưởng đến vùng ngọt đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp được an toàn. Xây dựng các đê bao khép kín để bảo vệ các khu dân cư, các vùng trồng cây ăn trái, trồng rau màu không những chống xâm nhập mặn mà còn phòng tránh lũ, lụt…


2. Giải pháp qui hoạch giữ đất trồng lúa

Hiện nay dự thảo Nghị định quản lý đất trồng lúa đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường trình Thủ Tướng Chính phủ sắp được ban hành.Tuy nhiên những năm gần đây Chính phủ cũng như các địa phương đã có một số chính sách giữ đất trồng lúa bởi vì: an ninh lương thực do chủ yếu 2 yếu tố quyết định là Dân số + Đất trồng lúa. Nếu diện tích đất trồng lúa và năng suất, sản lượng lương thực như hiện nay mà tốc độ tăng dân số không giảm thì tương lai không xa nước ta không còn gạo dư thừa để xuất khẩu. Giữ đất trồng lúa trước hết là kiên quyết không sử dụng đất trồng lúa để làm khu công nghiệp hay sân Golf mà nên sử dụng vùng đất cát bạc màu, hay dùng đất nuôi trồng thủy sản kém hiệu quả cho mục đích này. Đồng thời có chính sách để người trồng lúa có lợi nhuận trên 30% như chỉ đạo của Chính phủ và làm giàu bằng nghề sản xuất lúa thì người trồng lúa sẽ giữ được đất lúa.

3. Giải pháp chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi

Tiếp tục nghiên cứu, chọn tạo các giống cây trồng có khả năng chịu mặn, chịu hạn, chịu ngập úng, có sức đề kháng sâu bệnh cao; kể cả cây trồng biến đổi gen làm thức ăn chăn nuôi hay cây công nghiệp ngắn ngày như: Đậu tương, ngô, bông vải. Lai tạo, gây giống vật nuôi có khả năng chịu nóng, có sức đề kháng cao với dịch bệnh, những giống thủy sản chịu mặn, những giống vật nuôi sử dụng thức ăn là phế phụ phẩm thủy hải sản hay phế phụ phẩm từ lương thực để không cạnh tranh lương thực với con người như: động vật ăn cỏ, ăn rơm như trâu, bò, ngựa, dê, cừu, đà điểu; những loài thủy cầm và những loài động vật hoang dã như: rùa, ba ba, cá sấu, trăn, rắn, kỳ đà, nhím. Xây dựng và chuyển giao những cây lương thực có củ như khoai môn, khoai mỡ, khoai chuối , khoai mì…

4. Giải pháp về mùa vụ

Đối với lúa giảm diện tích vụ Xuân Hè (hay còn gọi là Hè Thu sớm) vì đây là vụ lúa dễ lưu truyền mầm mống sâu bệnh cho vụ Hè Thu. Chuyển đổi những cây sử dụng nhiều nước qua trồng các cây trồng cạn, sử dụng ít nước và có khả năng chịu hạn hay chịu ngập úng.

5. Giải pháp về kỹ thuật

- Ngoài việc nghiên cứu chọn tạo các giống cây trồng vật nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu như trên, các quy trình kỹ thuật cũng cần phải được thay đổi hay cải tiến, hoàn thiện nâng cao hiệu quả và tính bền vững của mô hình sản xuất. Chẳng hạn qui trình tưới nước tiết kiệm đối với cây trồng, qui trình chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học, qui trình tiết kiệm điện năng trong sưởi ấm gia súc, gia cầm non; tiết kiệm nước trong vệ sinh chuồng trại chăn nuôi; tận dụng phần gia súc, gia cầm để tạo khí sinh học làm chất đốt hay chạy máy phát điện công suất nhỏ phục vụ lại chăn nuôi. Chuyển nuôi thủy sản trong ao, vuông sang dạng nuôi lồng bè hay đăng quần để thích ứng với nước biển dâng cao… Nghiên cứu trồng các cây rau, màu trên bờ líp vuông tôm (trong mùa mưa) để làm thức ăn chăn nuôi. Mở rộng, hoàn thiện mô hình Lúa – Tôm sú, Lúa – Tôm càng xanh; đa dạng hóa các loài thủy sản. Nghiên cứu trồng các cây chịu mặn, cây thủy sinh trong vuông tôm như cây Lăn Tượng (Hến biển) để vừa cải tạo môi trường vuông nuôi tôm, vừa có thêm nguyên liệu chế biến hàng thủ công mỹ nghệ. Nghiên cứu chế biến rơm, rạ, Lăn Tượng, thân cây bắp, thân lá các cây họ đậu bằng cách nghiền nhỏ, đóng bánh dự trữ làm thức ăn cho gia súc nhai lại trong mùa khô thiếu cỏ…


- Như vậy có thể nói biến đổi khí hậu đã và sẽ gây ra vô vàn hiểm họa, tuy nhiên nếu chúng ta với khoa học kỹ thuật hiện đại và sự chỉ đạo kiên quyết của các cấp, các ngành và sự hưởng ứng tích cực của mọi tầng lớp nhân dân thì các hậu quả xấu do biến đổi khí hậu gây ra sẽ được khống chế và giảm thiểu rủi ro một cách có ý nghĩa và cuộc sống của chúng ta vẫn được bình yên.

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến Ngành Nông nghiệp by TS Nguyễn Xuân Khoa – TTKNKN Bạc Liêu.



Đăng ký: Bài đăng

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2020

Ông chủ mát tay với cam, quất - nongthonviet.com




Hơn 30 tuổi, có trong tay gần 2.000 gốc cam và quất, vườn cây ăn quả của anh Vũ Văn Dũng, phường Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội là địa chỉ cho nhiều ND đến tham quan, học hỏi.


Trước đây, anh Dũng lái xe cho một công ty nước ngoài có trụ sở tại Hà Nội. Lĩnh Nam quê anh diện tích đất nông nghiệp vẫn còn nhiều, trong khi bà con ND chỉ trồng rau là chính. Với lợi thế đất pha cát, anh thấy Lĩnh Nam rất thích hợp cho trồng các loại cây như cam, quất cảnh. “Đi nhiều nơi, nhưng tôi thấy không đâu bằng mảnh đất quê hương mình, làm giàu chính đáng trên quê hương vừa tạo được việc làm cho lao động nông thôn, hơn nữa lại được gần gia đình”- anh Dũng chia sẻ. 

Để chuẩn bị tốt cho kế hoạch trồng cam, quất của mình, anh đến các trang trại ở Nam Định, Văn Giang (Hưng Yên) để học hỏi kinh nghiệm, kỹ thuật. Có được vốn kiến thức kha khá, cùng với số vốn tích lũy của mình, anh yên tâm mua cây cam, quất giống ở Hưng Yên về trồng trên diện tích hơn 0,5ha của gia đình.


Vườn quất cảnh của anh Dũng.

Vườn quất cảnh của anh Dũng. nongdan24g @ nguontinviet.com



Anh Dũng cho hay: “Trồng quất mất rất nhiều công chăm sóc, nhất là khâu phòng, trị bệnh cũng như phải làm sao để ép cho quất ra quả đúng vào dịp tết mới thu lãi cao được. Phải phun thuốc sâu và bón phân theo đúng yêu cầu kỹ thuật và theo định kỳ, chủ yếu là bón phân NPK cùng với tro và bột đậu tương. Riêng quất, mỗi năm anh bán ra thị trường hơn 200 cây với giá trung bình 600.000 đồng/cây. Đặc biệt, quất chơi sau mỗi dịp tết có thể giữ lại gốc để dùng cho các năm tiếp theo. Với cam, anh chọn giống cam Canh đặc sản để trồng. Mỗi năm trang trại của anh bán ra thị trường 4-5 tấn cam, bỏ túi hơn 160 triệu đồng.

Bên cạnh đó, anh làm cây giống để phục vụ cho nhu cầu của nhân dân trong phường và các xã, phường lân cận.

Đến nay, trang trại cam, quất của anh có hơn 1ha. Tổng thu nhập mà anh Dũng thu về hàng năm gần 200 triệu đồng và tạo việc làm cho hàng chục lao động thời vụ tại địa phương.

Thấy phật thủ được giá, năm 2012, anh mạnh dạn thuê hơn 2ha đất của ND trong xã, mua giống về trồng. “Phật thủ không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn là thuốc chữa bệnh nên ngại gì mà không đầu tư”- anh Dũng nói. Vụ thu hoạch sắp tới, phật thủ sẽ cho anh Dũng nguồn thu nhập đáng kể.

Lan Dương/Báo Dân Việt   |  Đăng ký: Bài đăng

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2020

Không nên mang theo chuối trên tàu đánh bắt cá


Bạn nên tuyệt đối không mang theo chuối trên một chuyến đi câu cá. Nếu bạn làm thế, thuyền có thể chìm hoặc bị mắc cạn, hoặc ít nhất, bạn sẽ không bắt được bất kỳ con cá nào.






- Mỗi người câu cá đều biết rằng đem theo chuối trên một chiếc thuyền là một điềm xấu. Theo thuyền trưởng Howard Cuevas, câu châm ngôn của những ngư dân thời xưa này là một thứ tàn dư truyền lại từ thời những chiếc thuyền chở đầy chuối đi qua vùng biển nguy hiểm từ Nam Mỹ trên đường đến các cảng thịnh vượng của Bắc Mỹ.


- Nhiều thủy thủ trút hơi thở cuối cùng của họ trên các tàu thuyền chở đầy chuối, và loại “thực phẩm hoàn hảo của thiên nhiên” này bị qui cho là nguyên nhân gây nên điều tồi tệ đó.


- Nhà sinh vật học thủy sản và nhà văn tự do Jerald Horst nói: “Tôi đã thực sự được biết đến những chiếc tàu thương mại đã quay trở lại cảng và đuổi những thủy thủ khỏi thuyền vì buôn lậu chuối trên tàu”.


- Là một nhà khoa học, ông Horst không có bất kỳ mê tín dị đoan nào. Ông nói “Chuối trên một chiếc thuyền không phải là một điềm xấu”. “Nhưng nó như có chung một niềm tin với việc rời cảng vào ngày thứ sáu và xoay nắp hầm trên một chiếc thuyền lật ngược.”

Todd Masson – The Times-Picayune (Triệu Thanh Tuấn dịch).


Thứ Tư, 10 tháng 6, 2020

Cá Chạch Bùn đối tượng nuôi mới nhiều triển vọng



Cá chạch đồng (chạch bùn) có tên khoa học là Misgurnus anguillicaudatus Cantor, thuộc họ cá chạch Cobitida, là loài thủy sản nước ngọt, ngoài tiêu thụ trong nước còn được xuất khẩu.

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com


Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2020

Đặc điểm sinh học tảo Spirulina

Đặc điểm sinh học tảo Spirulina by Tạp chí TS.


1. Hệ thống phân loại

Tảo Spirulina được phân loại như sau:

- Ngành: Cyanobacteria

- Lớp: Chlorobacteria

- Bộ: Oscillatoriales

- Họ: Phormidiaceae

- Chi: Arthrospira

- Loài: Arthrospira maxima, Arthrospira platensis.  

2. Môi trường sống của tảo Spirulina

Trong môi trường sống có độ kiềm cao, Spirulina nổi lên hoặc lặn xuống ít nhất một lần trong suốt thời gian 24 giờ và sẽ thường xuyên hơn nếu như có gió nhẹ trên bề mặt hồ và nó sẽ sản sinh ra 2 – 4 gam sinh khối mỗi ngày trong điều kiện khí hậu và dinh dưỡng thích hợp. Spirulina sống trong môi trường kiềm tính, pH thích hợp khoảng 9,5 – 11,5 tối ưu nhất là pH = 9,5. Tảo Spirulina có thể sống trong nhiệt độ nước là 20 – 40 độ C, thích hợp nhất là 35 độ C. Tảo lơ lửng ở độ sâu có thể tới 50 cm, và trong môi trường nhân tạo thường nuôi ở mức nước 10 – 30 cm (nuôi hồ hở), hoặc có thể trong hồ đáy sâu 1 – 1,5 m (sục khí) nhưng phải đảm bảo tảo nhận nhận được ánh sáng. Ánh sáng là điều không thể thiếu giúp cho tảo quang hợp và phát triển. Cường độ ánh sáng thích hợp cho tảo phát triển là khoảng 1.500 – 2.500 lux (Vonshak, 1997).

3. Đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của tảo Spirulina

a) Đặc điểm hình thái

- Spirulina được xem là chi vi khuẩn lam cổ đã từng xuất hiện cách đây hơn 3 tỉ năm. Trước đây, người ta cũng gọi nó là tảo lam nhưng chính xác nó là vi khuẩn lam cổ có lịch sử lâu đời hơn tảo nhân thật hay thực vật bậc cao hơn 1 tỉ năm (Henrikson, 1999). Spirulina (Arthrospira) là loài có khả năng vận động tiến về phía trước hoặc phía sau. Sự vận động này được thực hiện bởi các lông ở sườn bên cơ thể. Các sợi lông này có đường kính 5 – 7 nm và dài 1 – 2 µm nằm quanh cơ thể. Các lông này hoạt động như tay chèo giúp vi khuẩn lam hoạt động (Fox, 1996).

- Theo Vonshak (1997), thì Spirulina có khả năng tạo ra các không bào khí nhỏ (gas vesicle) có đường kính cỡ 70 nm và được cấu tạo bằng các sợi protein bện lại. Không bào khí sẽ nạp đầy khi sợi Spirulina muốn nổi lên trên bề mặt để nhận ánh sáng cho quá trình quang hợp. Đến cuối ngày là lúc tế bào tạo ra một lượng lớn carbohydrate, lúc đó các tế bào sẽ tụ tập lại và tạo ra một áp suất thẩm thấu cao bên trong cơ thể, sau đó các không bào khí sẽ không thể duy trì áp suất thẩm thấu lâu bên trong tế bào và chúng sẽ vỡ, giải phóng ra các khí làm cho sợi tảo chìm xuống đáy và tại đây xảy ra quá trình chuyển hoá carbohydrrate thành protein.

b) Đặc điểm dinh dưỡng

- Spirulina là vi sinh vật quang dưỡng bắt buộc, chúng không thể sống hoàn toàn không có ánh sáng. Do đó phải đảm bảo các chỉ tiêu ánh sáng, nhiệt độ, pH, điều kiện khuấy trộn,… đảm bảo cho tảo phát triển tốt nhất. Môi trường dinh dưỡng của Spirulina gồm các dưỡng chất: cacbon, nitơ, các chất khoáng đa lượng và vi lượng:

+ Dinh dưỡng cacbon: Spirulina đồng hóa carbon chủ yếu ở dạng vô cơ, tốt nhất là bicarbonate (HCO3-) thông qua quá trình quang hợp. Nguồn cacbon cung cấp cho Spirulina khoảng 1,2 – 16,8 g NaHCO3/lít.

+ Dinh dưỡng nitơ: Spirulina có khả năng đồng hóa nitơ theo phản ứng khử nhờ enzyme nitrogenase xúc tác khi có ATP. Kết quả nitơ được tổng hợp thành protein của chúng. Chúng không có khả năng sử dụng nitơ trong không khí mà sử dụng dưới các dạng nitrat (NO3-), NH3, (NH4)2SO4, (NH4)2HPO4, (NH2)2CO. Tuy nhiên khi sử dụng nguồn nitơ không từ nitrate phải kiểm soát nồng độ vì có thể ảnh hưởng đến sự phát triển sinh khối của tảo, thậm chí có thể gây chết tảo.

- Các chất khoáng cần cung cấp cho môi trường nuôi tảo:

+ P vô cơ khoảng 90 – 180 mg/lít.

+ K+ và Na+ dưới dạng kết hợp với N, P.

+ Mg+: đóng vai trò tương tự như P.

+ Ca2+: không ảnh hưởng rõ đến sinh trưởng của tảo.

+ Fe cung cấp dưới dạng muối FeSO4. Nồng độ Fe2+ có thể dao động từ 0,56 – 56 mg/lít môi trường.

+ Cl-: tảo Spirulina rất ưa Clo vô cơ, nồng độ cung cấp từ muối NaCl khoảng 1 – 1,5 g/lít.

- Nếu môi trường có những vi lượng khoáng khác thì Spirulina cũng sẽ hấp thụ. Điều này có gây hại hay có lợi cho tảo cũng như ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm sau này. Sự hấp thu có hại: Pb, Cd, Hg, As,…Sự hấp thu có lợi: Senlen, Sắt, Germani và có thể cả Iod. Spirulina cũng chịu tác động của các hormone, giúp tảo tăng trưởng nhanh như indol acetic acid (AIA), gibberelic acid (GA3).

4. Đặc điểm sinh trưởng và sinh sản

Cũng giống như sự phát triển chung theo qui luật tăng trưởng của các sinh vật. Spirulina cũng trải qua các giai đoạn: thích nghi, logarit, đường thẳng, giảm, ổn định, suy tàn. Tảo Spirulina có phương thức sinh sản vô tính (phân chia từ một sợi tảo mẹ trưởng thành). Từ một sợi tảo mẹ, hình thành nên những đoạn necridia chứa các tế bào chuyên biệt cho sự sinh sản. Trong các necridia hình thành các đĩa lõm ở hai mặt và tách rời tạo các hormogonia bởi sự chia cắt tại vị trí các đĩa này. Trong sự phát triển, dần dần phần đầu gắn tiêu giảm, hai đầu hormogonia trở nên tròn nhưng vách tế bào vẫn có chiều dày không đổi. Các hormogonia phát triển, trưởng thành và chu kì sinh sản được lập đi lập lại một cách ngẫu nhiên, tạo nên vòng đời của tảo. Trong thời kì sinh sản tảo Spirulina nhạt màu ít sắc tố xanh hơn bình thường. Spirulina có vòng đời khá đơn giản và tương đối ngắn. Trong điều kiện tối ưu (nuôi trong phòng thí nghiệm) vòng đời khoảng 1 ngày. Trong điều kiện tự nhiên là khoảng 3 – 5 ngày.



Đăng ký: Bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2020

Bệnh Đốm Rong trên Bưởi


Bệnh đốm rong, do một loài rong có tên là Cephaleuros viresens gây ra. Ngoài bưởi và những cây thuộc nhóm có múi khác như cam, quýt…, bệnh còn xuất hiện rất phổ biến trên ổi, chôm chôm, sầu riêng, nhãn, măng cụt, vú sữa…



1. Triệu chứng

- Bệnh có thể xuất hiện và gây hại trên thân cây, cành già và lá già (hầu như không thấy trên các lá bánh tẻ và lá non), thỉnh thoảng cũng bắt gặp trên vỏ trái. Trên thân và cành già lúc đầu vết bệnh chỉ là những chấm nhỏ màu xanh, sau đó lớn dần, có hình tròn hoặc hình bầu dục, trên vết bệnh có một lớp lông tơ mịn, màu xanh rêu, giữa vết bệnh có màu đỏ gạch cua. Nếu nặng, từ gốc thân chính, cành già, bệnh leo lên phía trên, làm cho vỏ cành bị nứt, kém phát triển.

- Trên lá, vết bệnh là những đốm tròn hoặc hơi tròn, hơi nổi lên cao hơn bề mặt của phiến lá một chút. Do có lớp rong phát triển nên nhìn giống như một lớp nhung mịn, màu nâu đỏ gạch cua. Vết bệnh chỉ xuất hiện ở mặt trên của lá, còn mặt dưới, nơi có vết bệnh ban đầu vẫn bình thường, về sau chuyển dần sang màu nâu đen do rong tấn công vào tế bào biểu bì làm hủy hoại mô lá. Nếu bị hại nặng, lá trở nên thô cứng và rụng sớm, cây còi cọc, phát triển kém..

- Bệnh đốm rong thường xuất hiện và gây hại cây bưởi vào mùa mưa. Những vườn không được chăm sóc chu đáo (thiếu phân, thiếu nước, đất khô cằn) làm cho cây sinh trưởng kém, những vườn trồng quá dày làm cho vườn cây luôn rậm rạp, không thông thoáng… thường bị bệnh gây hại nhiều hơn.


2. Cách phòng trị

- Không nên trồng bưởi quá dày.

- Thường xuyên tỉa bỏ cành, lá già đã bị bệnh nặng phía dưới gốc, cành bị sâu bệnh, cành nằm bên trong tán không có khả năng cho trái đem tiêu hủy để hạn chế nguồn bệnh, đồng thời làm cho vườn có độ thông thoáng.

- Bón phân cân đối và đầy đủ cho vườn cây, không nên phun phân bón lá định kỳ, dễ làm cho trái bị nhiễm bệnh, tưới nước đầy đủ để đảm bảo đất luôn đủ ẩm, chăm sóc chu đáo, phòng trừ kịp thời các loại sâu bệnh… để cây luôn phát triển tốt.
- Có thể dùng một trong vài loại thuốc như: COC 85, Booc đo 1‰, Đồng Oxyclorua, Copper-B, Copper-Zinc 75WP, Kocide, Champion… pha đặc quét lên thân, cành già mỗi năm 2 lần vào đầu và cuối mùa mưa.


Đăng ký: Bài đăng

Tìm hiểu về vịt Uyên Ương






1. Tổng quan

- Vịt Uyên ương có tên khoa học là Aix galericulata, là một loài vịt đậu cây kích thước trung bình, có quan hệ họ hàng gần gũi với vịt Carolina ở Bắc Mỹ.

- Kích thước chiều dài của nó là 41 – 49 cm và sải cánh dài 65 – 75 cm.

- Uyên ương trống (còn gọi là uyên) có bộ lông sặc sỡ khó nhầm lẫn. Nó có mỏ đỏ, vệt lông hình lưỡi liềm lớn màu trắng phía trên mắt và mặt đỏ cùng “ria”. Ngực màu tía với hai sọc trắng theo chiều dọc, hai hông hung hung đỏ, với hai cụm lông giống như hai lá buồm màu da cam ở lưng. Con mái (còn gọi là ương) trông tương tự như con mái của vịt Carolina, với vành khuyên màu trắng quanh mắt và sọc chạy ngược về phía sau từ mắt, nhưng nhạt dần, nó có sọc nhỏ màu trắng bên hông và đầu mỏ nhạt màu.

- Loài này đã từng phổ biến ở miền đông châu Á, nhưng sự xuất khẩu ở quy mô lớn và sự phá hủy môi trường sinh sống miền rừng của nó đã làm suy giảm rất nhiều.

- Mặc dù nó có ý nghĩa lớn trong việc bảo tồn, nhưng loài vịt này không được bảo vệ tại đây do loài này không là loài bản địa.


- Trong tự nhiên, uyên ương sinh sản trong các khu vực nhiều cây cối gần các ao, hồ nước nông, đầm lầy. Chúng làm tổ thành các hốc trên cây, gần với mặt nước. Ngay sau khi uyên ương con nở ra, mẹ chúng bay xuống đất và kêu để giục các con rời tổ. Quần thể châu Á là chim di trú, chúng trú đông tại các vùng đất tấp ở miền đông Trung Quốc và miền nam Nhật Bản.

- Uyên ương kiếm ăn bằng cách bơi lội hay đi lại trên mặt đất. Chúng chủ yếu ăn các loại rau cỏ và hạt, đặc biệt là quả sồi. Chúng đi kiếm ăn lúc chạng vạng hay rạng đông, còn ban ngày thì đậu trên cây hay ở dưới mặt đất để nghỉ ngơi.

- Chúng có thể tạo thành các bầy nhỏ trong mùa đông, nhưng ít khi thấy chúng tụ tập cùng các loài vịt khác.

- Uyên ương được biết đến và được tôn sùng tại châu Á từ trước công nguyên. Người phương Tây nhanh chóng nhận ra chúng khi họ xuất hiện tại khu vực Đông Á – những đôi uyên ương nuôi nhốt được đưa sang châu Âu có lẽ từ đầu thế kỷ 18. Uyên ương khá dễ nuôi cũng như dễ sinh đẻ và vì thế được nhiều người chăn nuôi trong các khu bảo tồn phục vụ cho săn bắn/du lịch cũng như trong các vườn bách thú.


2. Nét đẹp văn hóa

- Người Việt Nam cũng như người Trung Quốc đều gọi loài này là uyên ương ,thường xuyên được thể hiện trong nghệ thuật phương Đông và nó được coi là biểu tượng của hạnh phúc và chung thủy trong hôn nhân.






- Tục ngữ Trung Hoa sử dụng uyên ương làm phép ẩn dụ để chỉ các cặp đôi yêu nhau: “Uyên ương hí thủy”). Biểu tượng uyên ương cách điệu hóa cũng được sử dụng trong các đám cưới của người Trung Quốc. Thời xưa, những đôi uyên ương được dùng làm quà tặng tại đám cưới ở Trung Quốc như là biểu tượng của lòng chung thủy.

 Cùng với Chim Công , Vịt Uyên Ương được nhiều tạp chí sinh vật cảnh thế giới bình trọn là 1 trong 10 loài chim đẹp nhất hành tinh.

- Hiện nay Vịt Uyên Ương đã được nuôi sinh sản thành công tại một số trại Thành Viên của Trung Tâm Bảo tồn và Phát triển Vật nuôi có Gen Quý hiếm với số lượng con giống sản xuất ra thị trường bình quân môi năm đạt từ 50 – 100 cá thể chủ yếu phục vụ cho các khu du lịch, khu sinh thái, khu bảo tồn và nuôi làm cảnh tại các biệt thự nhà vườn. Qua nghiên cứu thử nghiệm cho thấy Vịt Uyên Ương thích nghi tốt ở nhiều vùng miền khí hậu, đặc biệt sức đề kháng rất cao chịu được giá lạnh và cho tỷ lệ nuôi sống thành công sau ấp nở đạt 90%.



Tìm hiểu về vịt uyên ương by Hạt thóc vàng.

Đăng ký: Bài đăng

Bạn Nên Xem:

Bài Viết Liên Kết

Translate

Mạng Nội Trợ

Nguồn Tin Cập Nhật