Tin tức nông nghiệp

Shopping Around

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

Trồng lá mối cho thu nhập cao - nongthonviet.com

nongdan24g @ nguontinviet.com


Từ một loại dây leo mọc dưới tán rừng, lá mối đã trở thành cây mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân vùng Bảy Núi (An Giang).


Tưới nước thường xuyên giúp lá mối phát triển tốt

Tưới nước thường xuyên giúp lá mối phát triển tốt



Giống cây rừng


Nhiều hộ dân dưới chân núi Dài (xã Lê Trì, H.Tri Tôn) đều trồng lá mối. Những người cao niên ở đây kể lại ngày trước lá mối mọc đầy trong rừng trên các ngọn núi thuộc dãy Thất Sơn. Lá mối có tính hàn, giải nhiệt nên vào mùa mưa, người dân thường rủ nhau đi hái lá đem về giã làm sâm uống. Dần dà, khi lá mối được nhiều người ưa chuộng, người dân mới kéo nhau lên núi hái bán. Tiếng lành đồn xa, các bạn hàng đến vùng núi này thu mua lá mối ngày càng nhiều. Để đáp ứng nhu cầu thị trường, người dân bắt đầu trồng lá mối quanh nhà. Những năm gần đây, lá mối dao động từ 50.000 – 80.000 đồng/kg, lúc hút hàng tăng lên 90.000 đồng/kg, nên nhiều người đã đẩy mạnh trồng loại dây leo này. Người dân vùng Bảy Núi thường nói vui với nhau: “Đây là loại cây trồng chơi ăn thiệt!”. Ông Trần Văn Sơn (50 tuổi, ngụ ấp An Thạnh, xã Lê Trì) cho biết thường khi sa mưa, người dân bắt đầu lấy hạt đem gieo. Khi dây lá mối lên cao khoảng 1 tấc, bắt đầu dùng bọc hoặc lá chuối bầu lại, sau đó đem trồng. Để lá mối phát triển tốt, có thể bón thêm phân chuồng, phân lân…


Hiện nhà ông Sơn đang trồng khoảng 5.000 dây lá mối trên diện tích 2.000 m2. Mỗi tháng ông bẻ 4 đợt, bình quân mỗi đợt khoảng 30 – 40 kg, bán với giá 50.000 đồng/kg, kiếm cũng được từ 1,5 – 1,7 triệu đồng. Ông Sơn nói: “Trước đây, tôi chỉ trồng 1.000 dây, khi thấy giá lá mối tăng mạnh, tôi bắt đầu mở rộng diện tích. Thời gian tới, tôi tiếp tục trồng thêm khoảng 3.000 – 4.000 dây lá mối để tăng thu nhập…”. Với 2 công lá mối đang cho thu hoạch, ông Sơn nói chắc nịch: “Nếu đem so sánh thì thu nhập từ vườn lá mối nhà tôi bỏ xa 20 công ruộng. Nhờ trồng lá mối, mỗi năm gia đình tôi thu lời khoảng 60 – 70 triệu đồng”.


Cây xoá đói giảm nghèo






















Dây lá mối (sương sâm) là loại thực vật có hoa (tên khoa học Tiliacora triandra), lá màu lục đậm, có phiến xoan, dài 6 – 11 cm, rộng 2 – 4 cm. Lá sương sâm được dùng làm thạch và rau ăn. Chỉ cần xay, giã nát lá tươi với nước, lược sạch, để 1 – 2 giờ, chất nước này sẽ kết đông và có màu xanh lá cây. Theo kinh nghiệm, sương sâm có 2 loại là sương sâm lông (lá và dây có lông tơ mịn) và sương sâm lá láng (lá trơn nhẵn, không lông), trong đó sương sâm lông cho thạch đông mịn và ngon hơn sương sâm láng.


Là một trong những người đi đầu trong việc trồng lá mối, đến nay hộ ông Trần Văn Biển (60 tuổi) cũng phất lên nhờ loại dây leo này. Với 5.300 gốc lá mối, mỗi đợt ông Biển bẻ hơn 40 kg lá, thu nhập gần 2 triệu đồng. Ông Biển khoe: “Tôi cũng không ngờ lá mối lại chính là cây xóa đói giảm nghèo. Trước đây, cuộc sống của gia đình tôi rất khó khăn, từ khi mạnh dạn đưa giống lá mối về trồng đã mang lại nguồn thu nhập cao. Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam vừa qua, mối lái ngoài Châu Đốc vào đặt mua nườm nượp để bán cho khách du lịch, gia đình tôi không đủ nguồn lá cung ứng”.


Nhớ lại những ngày đầu đem giống lá mối về trồng, ông Biển nói: “Hồi trước, thấy nhiều hộ mỗi lần bẻ lá mối bán là sắm vàng nên tôi ham quá, mới bàn với bà xã lên rừng tìm hạt giống lá mối về trồng. Ban đầu trồng chưa biết kỹ thuật nên lá mối bị chết hoài. Rút kinh nghiệm nhiều lần, tôi mới trồng lá mối thành công”. Để thuận tiện trong việc hái lá mối bán, ông lên liếp và mua cây lồ ồ về cắm thành hàng một. Khi lá mối quấn vào thân cây lồ ồ, mỗi lần bẻ có thể rút dây, rồi tuốt lá rất dễ. Tuy nhiên, muốn dây lá mối phát triển và trổ lá tốt, điều quan trọng là phải tưới nước, bón phân thường xuyên.


Hiện nay, ở 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên có hàng trăm hộ trồng lá mối đem lại nguồn thu nhập ổn định, trong đó ở xã Lê Trì (H.Tri Tôn) và vùng Tà Lọt sau lưng núi Cấm (xã An Cư, H.Tịnh Biên) nhiều hộ trồng xen canh giống lá mối dưới vườn tạp, tán rừng rất hiệu quả.


Hồng Ánh/Báo Thanh Niên






Nông dân 24giờ mỗi ngày cùng lao động tạo ra sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, những hạt lúa thơm ngon, thực phẩm giàu dinh dưỡng ... và giàu lên nhờ nông nghiệp. Hãy ghé mỗi ngày tại www.nongdan24g.com để có tin nông nghiệp sản xuất mới nhất.





Đăng ký: Bài đăng

Nông dân loay hoay chống đỡ những ‘cú sốc’ - nongthonviet.com

nongdan24g @ nguontinviet.com


Bức tranh nông nghiêp, nông thôn đang trở nên ảm đạm, nông dân phải “thắt lưng buộc bụng” để sống bởi mức thu nhập và chi tiêu ngày càng sụt giảm bởi họ ngày càng phải chịu nhiều hơn các “cú sốc” từ thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường.


Làm thế nào để bức tranh nông thôn tươi sáng hơn, nông dân vượt qua được các “cú sốc”, thoát nghèo vì thế trở thành chủ đề nóng tại hội thảo “Bức tranh nông thôn, nông dân Việt Nam nhìn từ cuộc điều tra tiếp cận nguồn lực gia đình”, được tổ chức tại Hà Nội mới đây.


Thu nhập teo tóp dần


Kết quả điều tra của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp (Ipsard) thực hiện từ 2006 -2012, tại 12 tỉnh thành trên cả nước cho thấy, thu nhập và chi tiêu của các hộ nông thôn tăng mạnh, đạt 13 triệu đồng/người (trong số các hộ được khảo sát năm 2010), song lại giảm chỉ còn 12,7 triệu đồng/người (năm 2012). Tỷ lệ hộ nghèo không giảm, thậm chí số hộ tái nghèo còn tăng.


Thu nhập từ nông nghiệp đang sa sút do người nông dân đang phải chịu đựng những cú sốc: từ khách quan có thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường… chưa kể chủ quan do tình trạng sức khoẻ, mất việc, mất đất… khiến nông dân điêu đứng, xoay trần ứng phó.


Trồng rau

Ông Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm tư vấn chính sách cho biết, như số liệu điều tra của Ipsard, hiện có 50% số hộ gia đình nông thôn chịu “cú sốc” về thu nhập; tình trạng suy thoái kinh tế khiến giá nông sản giảm mạnh đã gây ra những “cú sốc” khiến nhiều hộ nông dân khó vượt qua.


Theo ông Tuấn, các “cú sốc” mà người nông dân đang phải chịu rất đa dạng như từ thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường; ốm đau, trong gia đình có người qua đời, mất việc, mất đất, gánh nặng của các khoản đóng góp… Trung bình mỗi “cú sốc” gây thiệt hại 15-20 triệu đồng/hộ/năm. Mỗi khi gặp nạn, họ phải dùng đến những khoản tiền tích lũy, bán tài sản, rút về các khoản gửi tiết kiệm. “Thực tế, với số vốn tích lũy của hộ gia đình nông thôn hiện nay chỉ 5-8 triệu đồng/năm, có khi không đủ cho một lần đi viện, nên họ phải vay mượn từ người thân và bạn bè hoặc tín dụng. Vì vậy, có tới 45% số hộ nông dân cho biết họ đang phải nợ nần”.


Trong khi đó, hỗ trợ của chính quyền cho các hộ khi gặp cú sốc rất hạn chế. Lẽ ra, khoản tiền bảo hiểm phải là cách thức ứng phó tốt nhất cho các “vận đen” này, thế nhưng hầu hết nông dân lại chưa mua bảo hiểm, đặc biệt loại hình bảo hiểm nông nghiệp – ông Tuấn cho hay.


Để ứng phó với những cú sốc này, các hộ nông dân buộc phải cắt giảm chi tiêu. Tỷ lệ này chiếm tới 61,% ở nhóm nghèo nhất và 43,7% đối với nhóm giàu nhất. Bán đất, vay tiền, cầu cứu sự trợ giúp từ người thân, bạn bè… cũng là các giải pháp người nông dân dùng để chống đỡ các cú sốc.


Vì nghèo khó nên số tiền tích lũy được hàng năm của hộ gia đình nông thôn hiện rất thấp, chỉ khoảng 5-8 triệu đồng/hộ/năm, chiếm từ 10-15% thu nhập của hộ, phòng khi có rủi ro về thiên tai, dịch bệnh, ốm đau, tuổi già. Rất ít tiết kiệm được giữ cho mục đích đầu tư, chỉ chiếm 15% tổng số hộ điều tra.


Điều đáng chú ý, mức độ khó khăn ngày càng tăng lên với hộ nghèo. Theo số liệu điều tra, trên 50% số hộ được điều tra phải vay nợ tín dụng. Tuy nhiên, số tiền nợ chủ yếu từ vay tư nhân, còn nguồn vay từ ngân hàng chỉ chiếm khoảng hơn 13%. Nhiều ý kiến cho rằng, tín dụng chính thức không giúp gì nhiều cho những hộ gia đình nông thôn giải quyết khó khăn.


nông dân, nghèo, cú sốc, thu nhập, nông thôn, chi tiêu, nợ nần


Nhìn nhận về mức độ tăng thu nhập của hộ gia đình nông thôn đang giảm dần trong những năm trở lại đây, ông Đặng Kim Sơn, Viện trưởng – cho biết: “Càng về sau, đặc biệt cuộc điều tra năm 2012, cho thấy tốc độ tăng về thu nhập của người nông dân càng ngày càng giảm, đặc biệt khó khăn diễn ra ở những nhóm nghèo nhất”.


Một tỷ lệ lớn nông dân đang phải “thắt lưng buộc bụng”, giảm chi tiêu trong cuộc sống, nhất là nhóm dân tộc thiểu số. Cho thấy, tác dụng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước vẫn chưa cao.


Cách nào giúp nông dân?


Tại hội thảo, không ít ý kiến đã chỉ ra những hạn chế, tồn tại trong những chính sách hỗ trợ nông dân hiện nay.


Ông Nguyễn Văn Vỹ, Phó Chủ tịch Hội nông dân Sóc Sơn (Hà Nội), nêu quan điểm: Nhà nước đã có rất nhiều chính sách, nhưng cần cụ thể hóa các chính hóa chính sách này, đặc biệt các chính sách phải đến với người nông dân.


“Ngoài ra, chúng ta cần phải tăng cường dịch vụ, tích cực điều tra thị trường, phòng chống hàng giả, nhất là với giống, phân bón, thuốc trừ sâu… Có như vậy người dân mới có thể yên tâm sản xuất”, ông Vỹ nói.


Còn ông Nguyễn Thế Dũng, đại diện đến từ Ngân hàng Thế giới nói: Cần phải làm rõ trong số 26% hộ dân mất đất trong báo cáo nghiên cứu thì chính sách hỗ trợ như thế nào để sinh kế của người dân vẫn được đảm bảo. Thực tế cho thấy, nông dân đang nghèo đi, thời kỳ phát triển dễ dàng đã qua, giờ là thời kỳ khó khăn cần phải hỗ trợ nông dân nhiều hơn.


Theo ông Dũng, trong những chính sách hỗ chợ cho nông dân, cần làm rõ những chính sách nào đang hoạt động, chính sách nào không hoạt động, chính sách nào hướng đến người nghèo… Nếu không làm rõ vấn đề này, rất có thể xảy ra tình trạng chồng chéo chính sách, chính sách giúp cho người nghèo nhưng lại nhầm sang người giàu.


Riêng ông Phạm Quốc Doanh thì lại cho rằng các báo cáo nghiên cứu của Ipsard chỉ ra hàng loạt rủi ro nhưng lại thiếu một rủi ro quan trọng nhất đó là rủi ro về cơ chế chính sách. Theo ông Doanh, trong thời gian vừa qua có nhiều chính sách kiểu như chó chính chủ, xe chính chủ, thịt bán không quá 8 tiếng…


“Với nông dân, đừng ngồi bàn giấy, phòng lạnh để ra chính sách, nông dân thiệt thòi lắm. Những người làm chính sách phải xuống với dân, lắng nghe ý kiến của dân. Thị trường thì suốt 10 năm qua bà con luôn “cuốn theo chiều giá”. Giá lên thì chạy theo, giá xuống thì thiệt, bà con thiệt thòi đủ đường”, ông Doanh nói thêm.


Bảo Hân/Báo VNN






Đăng ký: Bài đăng

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013

Giải Pháp Mới Cho Nuôi Tôm Công Nghiệp

@ nguontinviet.com



Lưu ý:


(*) Bắt buộc nhập thông tin


Phần nội dung bà con không được nhập quá 4.000 ký tự


Gửi ý kiến là nơi để bạn đọc thảo luận, thắc mắc và chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm với tin bài 2 Lúa đã đăng. 2 Lúa hoan nghênh đón nhận và xuất bản những ý kiến khách quan, có tính xây dựng, tôn trọng cộng đồng. 2 Lúa kiểm duyệt, biên tập các ý kiến của bạn đọc trước khi xuất bản. 2 Lúa có quyền từ chối bất cứ ý kiến, lời bình nào không hợp thuần phong mỹ tục; các ý kiến cực đoan; không tôn trọng người khác. Nội dung viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc sai chính tả sẽ không được xuất bản; nội dung quảng cáo, ngôn ngữ html và đường link (đến những nôi dung không hợp lệ) đều không được xuất bản. Trân trọng cám ơn quý bạn đọc!






Đăng ký: Bài đăng

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2013

Thông tin về cá Chim Vây Vàng

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

Cá chim vây vàng (Trachinotus bloochi) là loài cá biển có giá trị kinh tế cao, được nuôi và tiêu thụ ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc, Mỹ, Singapo… Ở Việt Nam, cá chim vây vàng vẫn còn là đối tượng nuôi khá mới mẻ. Những thành công về sản xuất giống và nuôi thương phẩm trong thời gian qua đang mở ra nhiều triển vọng bổ sung loài cá chim vây vàng vào danh sách các loài cá biển nuôi ở Việt Nam.



- Cá chim vây vàng ưa hoạt động, dễ nuôi, tốc độ sinh trưởng khá nhanh, có thể nuôi với mật độ cao trong ao hoặc lồng ở cả các thủy vực nước lợ và nước mặn. Trước đây, cá chim vây vàng giống để nuôi thương phẩm ở Việt Nam đều phải nhập khẩu từ Trung Quốc hoặc Đài Loan. Tuy nhiên, nguồn cung từ nước ngoài không ổn định, thiếu chủ động và cá giống khó thích nghi với môi trường nuôi mới nên tỷ lệ sống đạt thấp, khiến giá thành nuôi cao.


- Từ thực tế đó, Sở NN&PTNT tỉnh Khánh Hòa đã chủ trì thực hiện đề tài nghiên cứu, sản xuất nhân tạo giống cá chim vây vàng, do PGS.TS. Lại Văn Hùng, Khoa Nuôi trồng thủy sản – Trường Đại học Nha Trang, làm chủ nhiệm đề tài.


- Từ tháng 10/2009 đến tháng 10/2011, nhóm nghiên cứu đã tuyển chọn, nuôi vỗ thành thục 129 con cá chim vây vàng bố mẹ cho sinh sản. Qua 12 đợt ương thử nghiệm, đề tài đã thu được 23,5 triệu trứng thụ tinh, ấp nở 12,6 triệu ấu trùng cá. Từ đó, đã ương được hơn 400.000 cá giống dài 4 – 5cm, vượt gần 300% so với chỉ tiêu đặt ra. Phần lớn số cá giống này được thả nuôi trong bể xi măng và gần 20.000 con được thả nuôi trong lồng bè.


- Đề tài đã được Hội đồng Khoa học Công nghệ cấp tỉnh nghiệm thu đạt loại xuất sắc. Đầu năm 2012, nhóm nghiên cứu đã tiếp tục triển khai pha 2 của đề tài nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá chim vây vàng để chuyển giao cho người nuôi. Đến nay, giống cá chim vây vàng đã được nhân rộng nuôi thương phẩm cung ứng sản phẩm ra thị trường nhiều tỉnh thành như Khánh Hòa, Ninh Thuận, Phú Yên, Bình Thuận, Bạc Liêu, Cà Mau, Nghệ An, Nam Định, Quảng Ninh, …


- Bước tiếp theo, các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật nuôi thương phẩm theo hướng giảm chi phí thức ăn, phòng trị bệnh, tiến tới tạo giống cá kháng bệnh và thích nghi được nhiều điều kiện môi trường nước. Theo đánh giá của các chuyên gia, cá chim vây vàng có thể góp phần thay thế cho nhiều loài thủy sản nuôi có hệ số rủi ro cao hiện nay.


- Từ giữa năm 2012, nhiều hộ nuôi ở các tỉnh ven biển ĐBSCL đã thực hiện thí điểm mô hình nuôi cá chim vây vàng theo hình thức công nghiệp và bước đầu được đánh giá là một mô hình hay nên nhân rộng.


- Nuôi cá chim vây vàng có thuận lợi so với các loài cá khác là cá có sức đề kháng khỏe, tỷ lệ sống rất cao, trên 95%, dễ nuôi và không có nhiều bệnh tật. Thịt cá chim vây vàng có vị ngon, cung cấp nhiều chất béo và omega 3.


- Với giá cá giống trung bình từ 4.500 – 6.000/con, sau 10 – 12 tháng nuôi, trọng lượng cá đạt khoảng 0,8-1,0 kg, đủ điều kiện xuất bán ra thị trường với mức giá trung bình 120-170.000 đồng/kg, đảm bảo người nuôi có lãi. Hiện có 2 hình thức nuôi cá chim vây vàng cho hiệu quả cao là nuôi lồng, bè trên biển và nuôi trong ao đất với nguồn nước dẫn trực tiếp từ biển vào. Độ sâu nước thích hợp cho cá sống là 5 – 6m, nhiệt độ thích hợp từ 28 – 30 độ C.


- Hiện nay, mô hình nuôi cá chim vây vàng đã được triển khai ở nhiều địa phương trong cả nước, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và có thể xuất khẩu. Tuy nhiên, rút kinh nghiệm từ những loài thủy sản chạy theo phong trào nuôi ồ ạt trước đây, dẫn đến cung vượt quá cầu và mất giá làm người nuôi điêu đứng, nhiều hộ nông dân vẫn chưa dám đầu tư mạnh để phát triển. Do đó, để mô hình này phát triển bền vững và hiệu quả, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng vào cuộc để hướng dẫn bà con kỹ thuật nuôi cũng như quy hoạch và quản lý chặt chẽ, tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm.


Thông tin về cá chim vây vàng by Công ty TNHH ARSS.




Đăng ký: Bài đăng

hoi nghi du thao gop y thong tu quan ly san pham xu ly cai tao moi truong

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

Hội nghị Dự thảo về góp ý Thông tư quản lý sản phẩm xử lý cải tạo môi trường trong nuôi trồng thủy sản


Ngày 14/5/2013, tại Hà Nội, Tổng cục Thuỷ sản đã tổ chức cuộc họp bàn về Dự thảo Thông tư trong lĩnh vực quản lý sản phẩm cải tạo môi trường nuôi trồng thuỷ sản. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuỷ sản Vũ Văn Tám đã chủ trì cuộc họp. Tham dự cuộc họp có đại diện một số đơn vị thuộc Tổng cục Thủy sản, Cục Thú y.



Download Dự thảo góp ý Thông tư quản lý sản phẩm xử lý cải tạo môi trường trong nuôi trồng thủy sản



- Trong buổi họp trước đó (ngày 21/4/2013), các đại biểu đã đóng góp rất nhiều ý kiến cho bản Dự thảo. Tuy nhiên, sau khi tổng hợp các ý kiến đóng góp, trong bản Dự thảo vẫn còn xuất hiện nhiều vấn đề bất cập cần phải trao đổi kĩ hơn. Tại cuộc họp lần này, bên cạnh việc chỉnh sửa văn phong cho rõ ràng, làm nổi bật phương pháp quản lý nhà nước chặt chẽ nhưng thông thoáng, một số vấn đề đã được đại biểu cuộc họp cùng nhất trí, đó là thống nhất lại một số Điều, Khoản sao cho cô đọng và khả thi; một số nội dung chi tiết mang tính tham khảo cần chuyển thành phụ lục; loại bỏ những giấy tờ không cần thiết trong các thủ tục hành chính. Về sự chồng chéo nội dung giữa các Thông tư của Bộ, có hai phương án được đặt ra: Một là, tập trung một đầu mối là Tổng cục Thuỷ sản (soạn thảo các nội dung liên quan đến việc quản lý sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường nuôi trồng thuỷ sản); Hai là, cho tồn tại và áp dụng đồng thời các Thông tư, Nghị định như hiện nay. Việc này cũng sẽ được trình lên Bộ trưởng để lựa chọn phương án tối ưu.


- Phát biểu kết luận, Thứ trưởng Vũ Văn Tám đề nghị Ban soạn thảo cần bố cục lại bản Dự thảo; giao Vụ Nuôi trồng thuỷ sản hoàn thiện; lấy ý kiến đóng góp của Cục Thú y và Vụ Pháp chế trước khi trình Bộ trưởng. Ông cũng lưu ý Ban soạn thảo phải bổ sung phần trách nhiệm của Cục Thú y vào nội dung của Thông tư này; trong cách trình bày, phải ngắn gọn, xúc tích, từ ngữ sử dụng phải chuẩn xác, lượng hoá các thông tin để việc kiểm tra, giám sát dễ dàng hơn; có thể lấy ý kiến của các địa phương và doanh nghiệp thông qua các cuộc Hội thảo.



Download Dự thảo góp ý Thông tư quản lý sản phẩm xử lý cải tạo môi trường trong nuôi trồng thủy sản.



Góp ý Thông tư quản lý sản phẩm xử lý cải tạo môi trường trong nuôi trồng thủy sản by Tổng cục Thủy sản.




Đăng ký: Bài đăng

Hỗ Trợ 109 Hộ Nông Dân Vay Vốn Phát Triển Sản Xuất

@ nguontinviet.com



Lưu ý:


(*) Bắt buộc nhập thông tin


Phần nội dung bà con không được nhập quá 4.000 ký tự


Gửi ý kiến là nơi để bạn đọc thảo luận, thắc mắc và chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm với tin bài 2 Lúa đã đăng. 2 Lúa hoan nghênh đón nhận và xuất bản những ý kiến khách quan, có tính xây dựng, tôn trọng cộng đồng. 2 Lúa kiểm duyệt, biên tập các ý kiến của bạn đọc trước khi xuất bản. 2 Lúa có quyền từ chối bất cứ ý kiến, lời bình nào không hợp thuần phong mỹ tục; các ý kiến cực đoan; không tôn trọng người khác. Nội dung viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc sai chính tả sẽ không được xuất bản; nội dung quảng cáo, ngôn ngữ html và đường link (đến những nôi dung không hợp lệ) đều không được xuất bản. Trân trọng cám ơn quý bạn đọc!






Đăng ký: Bài đăng

Phú Yên: Người dân phá mía trồng sắn - nongthonviet.com

nongdan24g @ nguontinviet.com


Thời gian gần đây, người dân ở các huyện miền núi Phú Yên đã phá bỏ nhiều diện tích mía để chuyển sang trồng sắn vì nhà máy đường chậm thu mua, khiến sản lượng và chất lượng mía sụt giảm, người trồng mía liên tục thua lỗ.Nhiều nông dân chuyển sang trồng sắn.


Đang cày lại ruộng của gia đình tại xã Sơn Hà (huyện Sơn Hòa), ông Nguyễn Sáu cho biết: Tôi vừa bán xong xe mía cuối cùng và đang làm đất để chuyển sang trồng sắn. Đợt này, may mà tôi nhanh chân cho người chạy xe mía bán ở một số nhà máy đường khác trong tỉnh thì mới bán hết lượng mía tồn, chứ nếu cứ ngồi chờ nhà máy đường của huyện thu mua thì còn lâu. Một số người cũng trồng mía như tôi đang đứng ngồi không yên vì mấy đám mía đã thuê người chặt rồi mà chưa có lệnh thu mua nên còn để đầy đồng. Mía héo, chữ đường giảm, trong khi giá nhân công, phân bón ngày càng cao, người dân cứ “ôm” cây mía thì cầm chắc lỗ.


Không may mắn như ông Sáu, gia đình bà Trần Thị Anh ở xã Hòa Hội (huyện Phú Hòa) đang lo sốt vó với hơn 5ha mía chưa bán được. “Mọi năm, vào khoảng tháng 3 là chúng tôi bắt đầu chặt mía và chỉ chờ nhà máy đường phát lệnh thu mua là xe tải chở mía đến cửa nhà máy ngay. Nhưng năm nay, không hiểu sao, mía chín đã được hơn 3 tháng mà nhà máy đường vẫn “bình chân như vại”, còn người trồng mía thì như “ngồi trên lửa”. Tháng trước, trời hanh khô, nắng nóng, nhiều người “xúi” nhau tự đốt mía nhà mình để nhà máy ưu tiên thu mua, mặc dù chữ đường giảm nhưng dù sao họ cũng bán được. Riêng gia đình tôi để lại chờ thì đến nay vẫn chưa bán xong. Ngày nào cũng ra đồng canh chừng, bao nhiêu công việc ở nhà đều bỏ bê cả. Kiểu này, nếu bán xong mía, tôi làm đất trồng sắn hết”, bà Anh bức xúc nói.


Được biết, các huyện Sơn Hòa, Phú Hòa, Đồng Xuân là vùng nguyên liệu mía của Nhà máy đường KCP (đóng tại huyện Sơn Hòa). Tuy nhiên, thời gian qua, nhà máy chậm thu mua mía khiến nhiều người bức xúc. Theo tính toán của người trồng mía, do giá thuê nhân công, tiền mua phân bón, mía giống ngày càng cao nên nếu tình trạng chậm thu mua kéo dài thì nhiều khả năng, bà con sẽ “chia tay” với mía, chuyển sang trồng sắn để đảm bảo thu nhập và giảm thiệt hại.


Theo KTNT






Nông dân 24giờ mỗi ngày cùng lao động tạo ra sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, những hạt lúa thơm ngon, thực phẩm giàu dinh dưỡng ... và giàu lên nhờ nông nghiệp. Hãy ghé mỗi ngày tại www.nongdan24g.com để có tin nông nghiệp sản xuất mới nhất.





Đăng ký: Bài đăng

Trồng ớt sừng trâu lời gấp 10 lần trồng lúa - nongthonviet.com

nongdan24g @ nguontinviet.com


Thực hiện cơ cấu chuyển đổi cây trồng, nhiều nông dân ở ĐBSCL đã đầu tư trồng ớt thay cây lúa, mía mang lại hiệu quả kinh tế cao.


Gia đình anh Châu Văn Phương ở xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre có truyền thống trồng mía, nhưng mấy năm nay giá cả bấp bênh, đời sống gia đình khó khăn. Được sự tư vấn của trạm khuyến nông huyện, anh đã mạnh dạn chuyển sang trồng loại giống ớt sừng vàng châu Phi ngắn ngày cho thu nhập nhanh, giá bán cao.











Trồng ớt sừng trâu

Mô hình trồng ớt sừng trâu đem lại thu nhập cao gấp 10 lần trồng lúa ở tỉnh Trà Vinh.



Hiện tại với 1 công đất trồng (1.000m2), cứ cách khoảng 2 ngày anh thu hái một lần được 30kg ớt sừng vàng châu Phi, bán với giá 10.000 – 12.000 đồng/kg. Sau khi trừ hết các loại chi phí, anh còn lãi hơn 50 triệu đồng/2 vụ/năm. Có lúc cao điểm như dịp tết, ớt sừng vàng bán được giá đến 35.000 đồng/kg, làm gia đình anh rất phấn khởi, cuộc sống từ đó ổn định hơn.


Nông dân ấp Giồng Nổi, xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh cũng nổi tiếng với mô hình trồng ớt làm giàu khá bài bản, thành lập hẳn một tổ hợp tác trồng ớt với hơn 25 thành viên. Ban đầu, gia đình anh Phạm Văn Hơn có 3 công đất trồng lúa không hiệu quả. Anh đã tham gia vào tổ hợp tác và chuyển đổi sang trồng giống ớt sừng trâu F1 châu Phi. Thời gian từ lúc trồng đến lúc thu hoạch là 2,5 tháng, gia đình anh thu hoạch hơn 2 tấn quả/công, thu gần 60 triệu đồng tiền lãi.


Gần đó có gia đình anh Phạm Phú Yên cũng tham gia vào tổ hợp tác trồng ớt với 1 công đất. Vụ này anh thu hoạch hơn 2,1 tấn quả/công, sau khi trừ chi phí, gia đình anh lãi khoảng 20 triệu đồng/vụ (3 tháng), cao gấp 10 lần so với trồng lúa. Anh cho biết: “Khi trồng ớt, gia đình tôi có sử dụng màng phủ đem lại nhiều lợi ích như tránh được sâu bệnh, ít hao phân, thuốc trừ sâu…”.


Để đảm bảo cho các thành viên trong tổ hợp tác trồng ớt đạt hiệu quả kinh tế cao, tổ thường xuyên duy trì họp mặt các thành viên để đưa ra lịch thời vụ trồng bằng hình thức xoay vòng giữa các hộ trong tổ, tránh tình trạng dội chợ và liên kết với doanh nghiệp ở Cần Thơ thu mua toàn bộ sản phẩm.


Anh Huỳnh Văn Giàu – Chủ tịch UBND xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè cho biết: “Để tạo điều kiện cho bà con phát triển kinh tế gia đình, xã đã vận động thành lập tổ hợp tác trồng ớt, nhằm giúp cho các hộ nông dân có điều kiện tiếp cận với các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới đưa vào sản xuất. Mô hình này hiện đang đạt hiệu quả khá cao, cho thu nhập gấp 8 – 10 lần trồng lúa. Xã sẽ tạo điều kiện cho tổ hợp tác trồng ớt tiếp cận được nguồn vốn của Ngân hàng chính sách, Ngân hàng NNPTNT để nhân rộng mô hình”.


Theo Báo dân viet






Nông dân 24giờ mỗi ngày cùng lao động tạo ra sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, những hạt lúa thơm ngon, thực phẩm giàu dinh dưỡng ... và giàu lên nhờ nông nghiệp. Hãy ghé mỗi ngày tại www.nongdan24g.com để có tin nông nghiệp sản xuất mới nhất.





Đăng ký: Bài đăng

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

Loài ve sầu hoàn toàn mới hại cà phê

@ nguontinviet.com


Thời gian gần đây, trên địa bàn huyện Lâm Hà (Lâm Đồng) xuất hiện một loài ve sầu hoàn toàn mới gây hại trên cây cà phê khiến nhiều hộ nông dân trồng cà phê lo lắng.


Mới đây, Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng đã có báo cáo kết quả bước đầu về việc kiểm tra thực tế tình hình loài ve sầu mới xuất hiện tại Lâm Hà này.


Trước tình hình cây cà phê trên địa bàn có một loài ve sầu lạ tấn công, ngày 17/5/2013, Trung tâm Nông nghiệp huyện Lâm Hà đã có văn bản chính thức báo cáo gửi đến các cơ quan chức năng của huyện Lâm Hà và tỉnh Lâm Đồng. Nhận được báo cáo, Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng đã cử cán bộ chuyên môn về Lâm Hà để điều tra nắm bắt tình hình.


Đến tuần cuối tháng 6, báo cáo kết quả bước đầu qua đợt khảo sát, kiểm tra của Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng cho thấy, trên địa bàn huyện Lâm Hà hiện có hơn 50ha cà phê bị loài ve sầu hoàn toàn mới này tấn công.




Chiều dài sải cánh của loài ve sầu hoàn toàn mới chưa được định danh khoa học và chưa biết vũ hóa từ đâu (ảnh: Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng)


Mức thiệt hại như sau: Diện tích bị thiệt hại nặng (tỷ lệ từ 62,5% - 75%) là 0,85ha; diện tích bị hại ở mức trung bình (37,5% - 50%) là 5ha; và diện tích còn lại (45ha) bị thiệt hại nhẹ (tỷ lệ 12,5% - 25%). Và, chỉ số cành trên cây cà phê bị hại tương ứng với các mức nặng, trung bình và nhẹ là 10% - 15%, 3% - 5% và 1% - 2,5%.


Cũng qua kết quả khảo sát của Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng, loài ve sầu hoàn toàn mới khi trưởng thành có đặc điểm hình thái là trên lưng có màu đen, dưới bụng có màu vàng cam và sau đuôi có gai nhọn. Về kích thước, con trưởng thành dài từ 55 – 60mm, chiều rộng của thân từ 20 – 22mm, chiều dài sải cánh từ 100 – 115mm.


Trứng của loài ve sầu mới có màu trắng, kích thước dài khoảng 2mm, đường kính của trứng trung bình là 0,5mm; trứng được đẻ chủ yếu ở các cành cấp 2 của cây cà phê. Bởi chưa được định danh khoa học nên dựa vào quan sát đặc điểm nổi bật ban đầu, Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng trong một văn bản báo cáo đã tạm gọi loài ve sầu này là “ve sầu bốn chấm”.


Cũng theo kết quả quan sát của cán bộ chuyên môn tại thực địa, con trưởng thành của “ve sầu bốn chấm” chỉ mới xuất hiện cục bộ ở một vài vùng cà phê tại các thôn thuộc huyện Lâm Hà; trong một vườn, loài ve sầu “bốn chấm” cũng chỉ xuất hiện rải rác trên một số cây; trên một cây, tỷ lệ xuất hiện của chúng cũng không cao (không dày).




Cành cấp 2 trên cây cà phê bị ve sầu “bốn chấm” gây hại


Loài ve sầu mới “bốn chấm” thường đẻ trứng và gây hại chủ yếu trên cành cà phê cấp 2, không hại cành cấp 1, với chỉ số cành bị hại phổ biến từ 1% - 5%. Qua quan sát cho thấy, loài ve sầu mới “bốn chấm” đã dùng vòi chích vào cành xanh cấp 2 để đẻ trứng nên đã làm cho các cành dinh dưỡng phát triển kém, khả năng phát triển chồi ngọn và lá non giảm đáng kể.









Nhiệm vụ điều tra, khảo sát và nghiên cứu để có kết luận khoa học về loài ve sầu “bốn chấm” hoàn toàn mới cùng với việc đưa ra các giải pháp phòng trừ dịch hại có lẽ đã vượt quá phạm vi kiểm soát của tỉnh Lâm Đồng.



Theo các tài liệu chuyên môn, nếu kể cả loài ve sầu hoàn toàn mới với tên tạm gọi là “ve sầu bốn chấm” vừa xuất hiện thì hiện tại, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đang tồn tại 6 loài ve sầu gây hại cây cà phê.


Trong đó, 5 loài đã được Viện Bảo vệ thực vật định danh khoa học là ve sầu phấn trắng (Dundubia nagarasagna Distant), ve sầu nâu đỏ (Purana pigmentata Dustant), ve sầu nhỏ (Purana guttularis Walker), ve sầu cánh vân (Pomponia daklakensis Sanborn) và ve sầu lưng vằn (Haphsa bindusa Distant).


Cho đến lúc này, cơ quan chức năng chưa phát hiện được ấu trùng ve sầu “bốn chấm” tại các cây cà phê và các vườn cà phê bị loài ve sầu hoàn toàn mới này gây hại. Điều quan trọng nữa là, cũng cho đến lúc này, theo Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng, cơ quan chức năng cũng chưa xác định được loài ve sầu “bốn chấm” hoàn toàn mới này được vũ hóa từ đâu để đến gây hại trên diện tích cà phê của huyện Lâm Hà.





Đăng ký: Bài đăng

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013

Đấu tranh quyền tự lựa chọn cám

@ nguontinviet.com


Cả ngàn hộ chăn nuôi bò sữa tại huyện Ba Vì (Hà Nội) đang bức xúc vì chuyện có mỗi quyền được tự do lựa chọn cám ăn cho con bò sữa cũng sắp đứng trước nguy cơ bị tước bỏ…


Cứ chiều chiều, anh Nguyễn Văn Xuân, một nông dân có 3 con bò sữa ở xóm Mít, xã Yên Bài (Ba Vì, Hà Nội) lại xách sữa đến đổ cho trạm thu mua gần nhà. Xô sữa nặng, bước chân nặng, lòng người cũng nặng.


Anh Xuân than thở: “Trước đây, có nhiều công ty thu mua sữa trên địa bàn nên có sự cạnh tranh với nhau về giá cả, người dân được lợi. Nay chỉ có mỗi mình Công ty Cổ phần sữa Quốc tế (IDP), giá thu mua đã từ lâu hầu như dậm chân tại chỗ, lấy công làm lãi thôi. Nếu ba bốn năm trước tính ra bình quân mỗi tháng nuôi một con bò sữa lãi khoảng 2,5 - 2,7 triệu đồng, giờ giỏi ra lãi được 1,5 triệu đồng”.


Không chỉ có giá thu mua sữa, điều làm anh Xuân lo lắng nhất chính là vấn đề cám cho bò sắp tới. Gia đình anh đã từng thử nhiều loại cám rồi chọn thương hiệu Phú Gia để dùng lâu dài vì chất lượng vì giá cả hợp lý.




Người chăn nuôi muốn được quyền tự do lựa chọn thức ăn


Tuy nhiên, mới đây các cán bộ nông vụ của nhà máy sữa IDP lại khuyến cáo miệng rằng phải lấy cám Nam Việt có mã số 888 do chính Cty họ phân phối mới đảm bảo chất lượng. “Theo khuyến cáo, gia đình tôi có lấy 10 bao cám Nam Việt 888 để cho bò ăn thử trong vòng hơn một tháng và thấy sản lượng sữa không tăng, hàm lượng phần trăm chất béo, chất khô vẫn thế nên giá thu mua không thay đổi.


Trong khi các loại cám khác không tăng giá mấy thì cám Nam Việt cứ tăng vù vù, giờ đã là 368.000 đ/bao/40 kg nên chúng tôi lại chuyển về loại cám cũ. Cán bộ nông vụ bảo đem kiểm nghiệm cám này tốt, cám kia xấu nhưng chúng tôi là nông dân chỉ kiểm nghiệm bằng năng suất, bằng chất lượng sữa thực tế của đàn bò mà thôi”, anh Xuân bức xúc.


Nông dân Nguyễn Văn Tiến có 9 con bò sữa cả to lẫn nhỏ cho hay: “Khi tôi sử dụng cám Nam Việt 888 sản lượng sữa vẫn như cám trước đây và nhưng giá thu mua sữa đang 12.250 đ/kg giảm còn 12.150 đ/kg, sau đó chuyển sang ăn cám khác thì giá bán sữa lại đạt 12.350 đ/kg”.


Bà Kim Thị Đào, Hội trưởng Hội Chăn nuôi bò sữa xã Yên Bài (huyện Ba Vì) bức xúc: “Vừa qua Cty sữa IDP có nói rằng các cám trên thị trường hiện nay không đạt tiêu chuẩn, chỉ có mỗi cám Nam Việt 888 là tốt. Họ còn nói nếu ai dùng cám này khi thu mua sẽ tăng 200 đ/kg và nông hộ nào đạt chuẩn (đạt các tiêu chí về điều kiện nuôi theo bộ tiêu chuẩn “Sữa tươi nông trại Việt”- dòng sản phẩm mới mà IDP đang khuyến cáo) còn được thưởng thêm.


Tuy nhiên chỉ trong hai tháng, giá cám Nam Việt 888 đã tăng giá đến hai lần (trước 356.000 đ/bao tháng này đã 368.000 đ/bao) trong khi các loại cám khác giá vẫn bình ổn. Con bò vốn quen ăn một loại cám, loại cám đó nếu năng suất đạt, chất lượng sữa đạt là bà con chúng tôi dùng thôi. Về giá sữa, hồi tổng kết hợp tác ba bên, Cty IDP có nói tháng 4 năm 2013 sẽ tăng cho bà con mà tới giờ là giữa tháng 6 vẫn chưa thấy”.




Loại cám đang được ráo riết khuyến cáo sử dụng lại có giá khá cao


Ông Phí Đình Nghi, một đại lý thu mua sữa kiêm phân phối cám cho bò ở xã Vân Hòa tiết lộ: “Bán mỗi bao cám 40 kg của các thương hiệu khác tôi được 7.000 - 8.000 đ tiền lãi nhưng nếu bán cám Nam Việt 888 được 17.000 đ lãi. Tuy lãi cao nhưng tôi thấy xót ruột cho người nông dân quá bởi giá thức ăn cao như vậy, nếu nuôi ba bốn con bò coi như mỗi ngày họ mất đứt một lít sữa rồi còn gì?”.


Anh Nguyễn Văn Sơn, nông dân nuôi bò ở xã Vân Hòa cho biết: “Trước đây gia đình chúng tôi có dùng cám Nam Việt thấy năng suất sữa tốt nhưng từ hồi Cty tăng giá nhiều đã đổi sang loại cám khác tương đương, năng suất sữa vẫn thế mà mỗi tháng tiết kiệm được 280.000 đ tiền mua thức ăn”.









Ba Vì có nhiều xã nuôi bò sữa với tổng cộng số đầu con khoảng trên 7.000. Tuy không tiêu thụ số lượng nhiều như thức ăn lợn, thức ăn gia cầm nhưng thức ăn bò sữa lại đem lại tỷ lệ lợi nhuận cao cho các Cty SX. Vì thế Ba Vì trở thành một “chiến trường” để cho nhiều thương hiệu thức ăn như Nam Việt, Lái Thiêu, Phú Gia, Voi Vàng, … cạnh tranh nhau khốc liệt.



Một người trong cuộc bảo tôi, cuộc cạnh tranh dần đã trở nên không lành mạnh khi Cty sữa IDP nhảy vào cuộc, trực tiếp phân phối cám Nam Việt 888: “Cán bộ phòng nông vụ của nhà máy cứ khuyến cáo miệng tới các trạm thu mua sữa để từ đó trạm ép người chăn nuôi phải tiêu thụ cám Nam Việt 888 mới đảm bảo chất lượng, mới được tăng 200 đ/kg sữa.


Tăng 200 đ nhưng thực tế trừ đi chất béo, chất khô này nọ (những cái này nhà máy tự kiểm tra) thì tiền bán sữa nông dân thu về vẫn như cũ trong khi mỗi bao cám lại bị đắt lên gần 20.000 đ. Thực tế đó khiến cho người ta nghĩ phải chăng có sự bắt tay, ăn chia giữa cty cám và phòng nông vụ nhà máy?


Người nông dân được mỗi cái quyền tự do lựa chọn cám cho bò mà giờ đây họ cũng tước đoạt mất. Bảo cám ngoài không đảm bảo tiêu chuẩn, ảnh hưởng đến chất lượng sữa thì hãy kiểm tra đầu ra, nếu đảm bảo thì thu mua, còn không thì thôi".









Riêng về giá thu mua sữa, hiện nay nông dân Ba Vì không có sự lựa chọn nào khác ngoài bán cho IDP vì các Cty khác đã bị “đuổi” ra khỏi vùng rồi. Muốn tăng đàn, muốn xây dựng một thương hiệu sữa Ba Vì thật tốt nhưng hiệu quả chăn nuôi thấp nên nông dân giờ đây cũng không mạnh dạn trong đầu tư nữa.






Đăng ký: Bài đăng

Nông dân Lai Vung loay hoay bỏ lúa, trồng màu - nongthonviet.com

nongdan24g @ nguontinviet.com


Cây quýt đường mới được nhà vườn Lai Vung (Đồng Tháp) đưa về vùng này trồng thử trong vòng ba năm nay. Nhưng theo thống kê gần đây của UBND huyện, diện tích trồng quýt đường hiện đã ở mức khoảng 750ha, trong khi năm ngoái diện tích trồng quýt đường chỉ khoảng 250ha.


Nhà vườn Huỳnh Hồng Kim Định (Út Định) ở ấp Tân Lợi, xã Tân Thành cho biết, nông dân chọn trồng quýt đường nhờ quýt đường có ưu thế hơn quýt hồng như: yêu cầu chăm sóc không cao, cho trái quanh năm, giá bán dịp tết cũng cao hơn quýt hồng từ 10 – 20%. Hơn nữa, mấy năm nay, nhiều vườn quýt hồng có hiện tượng chết cây rải rác không rõ nguyên nhân và ngay sau đó, nhà vườn đã cho trồng thay bằng cây quýt đường.










Người nông dân Lai Vung đã chuyển qua trồng cây ăn trái, thay vì trồng lúa. Ảnh: N.Tùng



Theo thống kê của phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lai Vung, diện tích trồng quýt hồng trong huyện khoảng 1.176ha, tuy nhiên, trên thực tế, diện tích quýt hồng đã giảm đáng kể khi phong trào trồng quýt đường phát triển mạnh, bởi theo ông Huỳnh Văn Tồn, phó phòng này, quýt đường ngoài trồng chuyên canh, còn được trồng xen với quýt hồng.


Bà Trương Thị Nên, phó chủ tịch UBND huyện Lai Vung cho biết huyện có hai cây chủ lực là lúa và cây quýt. Với diện tích đất lúa hiện khoảng 13.000ha, sản lượng thu hoạch hàng năm khoảng 170.000 – 200.000 tấn, trị giá khoảng 1.000 tỉ đồng, bình quân đạt gần 77 triệu đồng/ha. Trong khi đó, 1.176ha quýt hồng trong huyện hàng năm đạt giá trị khoảng 700 – 800 tỉ đồng, tương đương nhà vườn đạt mức thu nhập bình quân hơn 630 triệu đồng/ha, gấp hơn tám lần so với trồng lúa.


Theo bà Nên, theo quy hoạch, huyện Lai Vung phải giữ quy mô 13.500ha diện tích đất trồng lúa và hiện huyện này chỉ còn khoảng 13.000ha lúa, nên huyện đã phải chọn giải pháp phân kỳ đầu tư công nghiệp để bổ sung khoảng 500ha đất lúa còn thiếu theo yêu cầu.


Bên cạnh đó, theo phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lai Vung, huyện hiện có khoảng 2.500ha rau màu luân canh trên đất lúa. Kết quả canh tác cho thấy, mức thu nhập đối với từng loại cây trồng như: nấm rơm: hơn 200 triệu đồng/ha/vụ; dưa lê: hơn 150 triệu đồng/ha/vụ; cây mè: 40 – 50 triệu đồng/ha/vụ… trong khi bình quân trồng lúa chỉ đạt 30 – 40 triệu đồng/ha/vụ. Như vậy, với mức chênh lệch về hiệu quả canh tác, đề án xây dựng vùng chuyên canh rau màu đã được triển khai tại xã Phong Hoà hồi tháng 3 vừa qua với quy mô diện tích hơn 200ha. Tuy nhiên, theo mô tả của đề án, vùng chuyên canh rau màu này phải được đầu tư thêm về hạ tầng thuỷ lợi, tập huấn kỹ thuật… với tổng kinh phí ước tính khoảng 4 – 5 tỉ đồng.


Tuy nhiên, ông Trần Anh Phong, phó chủ tịch UBND xã Phong Hoà, cho biết giá cả của hầu hết sản phẩm rau màu đều phụ thuộc vào sự thoả thuận giữa thương lái và từng nông dân, nên thường rất bấp bênh, người trồng khó kiểm soát được giá thực tế trên thị trường. Để giải quyết vướng mắc này, theo ông Tồn, cần xây dựng chính sách và thiết lập mô hình hợp tác xã chuyên sản xuất và kinh doanh rau màu tại vùng này, qua đó, nông dân có thể liên kết nhau từ xây dựng kế hoạch, tổ chức sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm nhằm bảo vệ lợi ích chung của các xã viên.


Ngọc Tùng/Báo SGTT






Nông dân 24giờ mỗi ngày cùng lao động tạo ra sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, những hạt lúa thơm ngon, thực phẩm giàu dinh dưỡng ... và giàu lên nhờ nông nghiệp. Hãy ghé mỗi ngày tại www.nongdan24g.com để có tin nông nghiệp sản xuất mới nhất.





Đăng ký: Bài đăng

Kỹ thuật trồng Cải Mầm hộ gia đình

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

1. Điều kiện trồng


- Nơi tối (không cần ánh sáng giúp cây con).


- Thoáng khí, lưu thông khí càng tốt để môi trường canh tác khô ráo, ít bị bệnh.


- Nhiệt độ: 25 – 27 độ C và ẩm độ không khí 60 – 65%.


2. Dụng cụ cần chuẩn bị

- Hộp nhựa (20 x 20 cm).


- Hột cải củ 30g/khay nhựa.


- Giá thể tro trấu hoặc mụn xơ dừa đã xử lý.


- Dinh dưỡng


- Giấy thấm ( giấy khăn ăn hoặc y tế hay vệ sinh).


- Bình phun nước.


- Thau nhựa.


- Kéo cắt rau.


- Cân đồng hồ.


3. Kỹ thuật trồng

- Chuẩn bị hột : Ngâm hột trong nước khoãng 2 giờ, vớt hột để ráo trong rổ.


- Chuẩn bị nền gieo : Tro trấu xả dưới vòi nước 5 phút cho đến hết mặn để ráo hoặc mụn xơ dừa ngâm nước sạch 60 phút vắt ráo để vào hộp nhựa hoặc thùng xốp dầy 1cm khỏa điều trên mặt nhưng không nén chặt, lót hai lớp giấy thấm bên trên rồi phun nước dẫm.


- Gieo hạt : Rãi đều hột cải củ lên mặt giấy thấm.


- Chăm sóc quản lý:

+ Ngày thứ nhất: Dùng bình nhựa phun nước sạch, trung bình 3 lần/ngày nhưng nếu gặp thời tiết nóng bức có thể tăng thêm 1 lần tưới. lượng nước cần khoảng 10 – 15cc/ngày, đậy kín hộp để giữ ẩm tốt, cây nẩy mầm đều, chỉ cần phun ướt hột, đặt hộp nơi tối hoặc để trong bọc nilon đen.

+ Ngày thứ 2: Cũng phun 3 lần/ngày, lượng nước cần 15-20cc/ngày, giở bỏ nắp hộp để cung cấp đủ oxy, đặt hộp nơi tối.


- Ngày thứ 3: Cây non đã nẩy mầm giảm phun nước bên trên hột mà chuyển sang cung cấp nước vào giá thể cho ước rễ, dùng ống chích bơm dinh dưỡng dưới gốc(hoặc dùng ly nhỏ chế dinh dưỡng vào thành hộp rồi nghiêng cho thấm đều), lượng nước cần khoảng 20 – 30 cc/ngày đặt trong tối.


- Từ ngày thứ 4 đến thứ 6: Cây đã cao, cung cấp dinh dưỡng dưới gốc (tuyệt đối không phun dinh dưỡng trên lá vì ẩm độ cao rất dễ sinh bệnh thối cây non), bình quân lượng dinh dưỡng cần 40 – 60cc/ngày, đặt hộp trong nhà nơi có ánh sáng nhẹ.


4. Thu hoạch

Ngày thứ 6 thu hoạch rau non, lá màu vàng trắng rất ngon(không đem ra nắng), cao khoảng 10-12cm, trọng lượng trung bình 140 – 170g/hộp. Nếu thu hoạch ngày 7 rau có mùi nồng hơn, cây to hơn nên năng suất đến 170 – 220g/hộp. Nếu thích có lá có màu xanh, vị cay nồng nhiều thì đem ra nắng buổi sáng vài giờ. Không nên thu trễ hơn 7 ngày vì rau già, kém ngon. Dùng kéo cắt sát gốc, bỏ rễ.


Kỹ thuật trồng cải mầm hộ gia đình by Cổng thông tin Sóc Trăng.




Đăng ký: Bài đăng

Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2013

Quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá Lóc hộ gia đình

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

Sở Khoa học và Công nghệ Long An vừa tổ chức hội nghị nghiệm thu kết quả đề tài nghiên cứu khoa học “Hoàn thiện qui trình sản xuất giống cá Lóc qui mô nông hộ vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long an” do Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH & CN Long An thực hiện, kỹ sư Phạm Thanh Dung làm chủ nhiệm đề tài.


Hội đồng Khoa học Kỹ thuật dưới sự chủ trì của Tiến sĩ Phạm Văn Khánh – Giám đốc Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản nước ngọt Nam bộ làm chủ tịch hội đồng. Thời gian thực hiện từ 2/2009 đến 2/2011.


I. Tổng quan

- Phong trào nuôi cá lóc trong ao và trong bè vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long có trên 10 năm nay, tập trung chủ yếu 3 huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng và Mộc Hóa, nhưng đến nay người dân vẫn chưa tự tạo ra được con giống phục vụ nhu cầu nuôi của mình mà phải đi mua cá giống từ các tỉnh khác về nuôi, cá lóc giống mua ngoài thị trường không rõ nguồn gốc giống loài, chất lượng không tốt, hình dáng không đẹp, thịt cá thương phẩm ăn không ngon, khi nuôi lớn bán ra thị trường không chấp nhận, dẫn đến giá bán thấp làm ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả kinh tế của phong trào nuôi cá lóc trong vùng


- Đề tài hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất giống cá Lóc, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, tổ chức 2 lớp tập huấn cho các hộ nuôi nắm rõ toàn bộ quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá lóc. chủ động sản xuất ra cá bột và cung cấp con giống với chất lượng tốt cho các mô hình nuôi cá Lóc thương phẩm tại huyện Mộc Hoá, nâng cao tỉ lệ sống, năng suất đồng thời hạ giá thành sản phẩm, nâng cao lợi nhuận cho người sản xuất.


- Cá bố mẹ (cá Lóc đen và cá Lóc môi trề) được chọn nuôi vỗ có biểu hiện ngoại hình tốt, không dị tật, Cá có trọng lượng dao động từ 0,8 – 1,5 kg/con, tương ứng với tuổi cá nuôi từ 10 – 12 tháng ; Được nuôi và cho cá sinh sản tại xã Bình Hiệp – huyện Mộc Hóa, và ương cá tại trại Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH &CN và 10 hộ dân (2 hộ ở xã Bình Hiệp, 8 hộ ở Bình Hòa Tây).


II. Kết quả đạt được

1. Điều tra hiện trạng nuôi cá Lóc ở huyện Mộc Hoá

chi phí nuôi cá lóc cao khoảng 300 triệu đồng/1.000m2. Người dân không có nhiều vốn nên diện tích nuôi của từng hộ dân thấp, diện tích nuôi < 1000 m2 chiếm 78% , >1.000m2 chiếm 22%. 100% hộ dân nuôi cá lóc lai, không nuôi cá lóc đồng; Độ sâu ao khoảng 2 – 3m, mùa vụ nuôi tập trung từ tháng 6 đến tháng 1 hàng năm, chủ yếu tận dụng nguồn cá tạp giá rẻ trong mùa nước lũ, mật độ nuôi cá lóc thịt khoảng 30 – 50 con/m2, kích cỡ cá thả nuôi dao động lớn từ 5 – 10g/con. Thức ăn nuôi cá lóc chủ yếu là cá tạp nước ngọt tận dụng trong mùa lũ và cá tạp biển, trong nuôi cá lóc vấn đề thức ăn đóng vai trò rất quan trọng, quyết định đến giá thành của sản phẩm nuôi, cá tạp là loại thức ăn cá lóc ưa thích được người dân sử dụng từ rất lâu. Thời gian thu hoạch cá lóc thường tập trung từ tháng 12 đến tháng 2, nguyên nhân vì đây là cá tiêu thụ nội địa nên có giá cao vào trong dịp tết và mùa khô. Giá cá thương phẩm 30.000 – 35.000 đ/kg. Năng suất nuôi của các hộ dân xã Bình Hòa Tây 10 – 13 tấn/ 1.000m2, xã Bình Hiệp khoảng 3 – 5 tấn/1.000m2, kích cỡ cá thu hoạch trung bình 0,8 kg/con. Tùy theo mật độ thả, năng suất và giá cá mồi cao hay thấp mà hiệu quả kinh tế khác nhau, thường người nuôi lãi từ 5.000 – 8.000 đ/kg cá lóc thịt.


2. Yếu tố thủy lý hóa môi trường nước ương

- Về nhiệt độ:Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá trong các loại hình nuôi dao động 26 – 32 độ C. Nếu nhiệt độ trên 33 độ C hoặc dưới 26 độ C sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của cá.


- Về pH: pH nước thích hợp cho sự phát triển của cá khoảng 6,5 – 9, trong quá trình nuôi chủ hộ thường xuyên kiểm tra pH, nếu tảo phát triển quá mức làm cho pH cao thì thay nước và những ngày trời mưa nhiều làm pH giảm thấp thì bón vôi với liều lượng 10 – 15kg/1.000m2 để xử lý.


3. Kết quả nuôi vỗ thành thục cá Lóc

Cá lóc thành thục quanh năm, tuy nhiên tỉ lệ cá thành thục cao nhất từ tháng 5 – 9, quá trình nuôi vỗ cá đực thành thục sớm hơn cá cái, cá đực thành thục sớm nhất là tháng 4 – 5, trong khi đó sự thành thục sinh dục tốt nhất ở cá cái là tháng 5 và 6.


4. Kết quả sản xuất giống

Trong 03 phương pháp sinh sản: nhân tạo, bán tự nhiên và tự nhiên, thì sinh sản tự nhiên đạt kết quả cao nhất, sức sinh sản và tỉ lệ thụ tinh cao nhất; mặc dù gọi là phương pháp sinh sản tự nhiên nhưng hoàn toàn chịu sự tác động của con người là chủ yếu, cụ thể cá bố mẹ được nuôi vỗ thành thục sinh dục trong vèo, sau đó dùng que thăm trứng kiểm tra mức độ thành thục của cá, chọn cá chín muồi sinh dục mới bố trí cho sinh sản, không tiêm kích dục tố. Trước khi bố trí cho cá sinh sản làm tổ sẵn cho cá trong ao đất, trong tổ cho vào rau muống hoặc cỏ để cá kéo làm tổ, mỗi tổ bố trí chỉ 1 cặp cá. Sau khi bố trí cá vào tổ trong vòng từ 1 – 5 ngày cá sinh sản gần như hoàn toàn 89,8 – 95,1%. Ấp trứng trong bể lót bạt, chúng tôi thu được lượng cá bột rất nhiều và đồng loạt; Phương pháp sinh sản này rất đơn giản, nhưng đạt kết quả cao, tất cả người dân đều có thể áp dụng và làm rất tốt.


o de cua ca loc


5 Kết quả ương từ bột lên giống

- Mật độ ương 500 con/m2 trong bể nhựa cá nhanh lớn nhất và tỉ lệ sống cao nhất; mật độ ương 2.000 con/m2 trong vèo cá nhanh lớn hơn và tỉ lệ sống cũng cao hơn. Ương cá trong bể và ương trong vèo đặt trong ao đất thì ương cá trong vèo có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn do môi trường nước ổn định hơn, có đầy đủ phiêu sinh vật làm thức ăn cho cá nên cá phát triển nhanh hơn. Mật độ ương càng thưa thì cá ương đạt kích cỡ và tỉ lệ sống càng cao.


- Thức ăn: Trùn chỉ, cá tạp xay, và thức viên công nghiệp hàm lượng đạm 30%, thì thức ăn là trùn đạt kết quả cao nhất, khi ứng dụng thực tế sử dụng cá tạp xay nhuyễn làm thức ăn cho cá có tính khả thi hơn.


- Cá lóc rất dễ ương, những hộ dân nào chăm chỉ, cần cù chịu khó và cung cấp thức ăn đầy đủ thì cá tốc độ phát triển nhanh, đạt tỉ lệ sống cao. Tuy nhiên cần lưu ý cá thường bị bệnh khi môi trường nước dơ, và những ngày mưa nhiều làm tỉ lệ sống hao hụt nhiều.


- Qua 2 năm thực hiện, kết quả đề tài đạt loại khá và có ý nghĩa thiết thực, hoàn thành và xây dựng hoàn chỉnh quy trình sản xuất giống dễ áp dụng cho nông hộ, có khả năng nhân rộng, phát huy được hiệu quả trong và sau quá trình triển khai. Góp phần đáp ứng nhu cấu thực tiễn sản xuất tại vùng Đồng Tháp Mười. Trong thực tế nông hộ sản xuất ra được 646.428 con cá giống. Hướng dẫn cho 10 dân huyện Mộc Hóa nắm vững và vận hành tốt toàn bộ quy trình sản xuất giống và ương cá lóc từ bột lên giống. Người dân trong vùng rất phấn khởi và an tâm vì họ có thể chủ động sản xuất ra loại cá lóc giống thích hợp để nuôi. Quy trình sản xuất giống cá lóc thành công đã được ứng dụng nhân rộng trên địa bàn huyện Mộc Hóa, giải quyết được nhu cầu bức xúc của người dân trong nhiều năm qua.


* Lưu ý: dùng thức ăn là cá tạp xay khi ương cá lóc giống, môi trường nước dễ bị ô nhiễm, cần có giải pháp để xử lý môi trường; Hiện nay nuôi cá lóc thương phẩm, thức ăn chủ yếu cá tạp lệ thuộc vào tự nhiên và ngày suy giảm và cạn kiệt. Để việc nuôi cá lóc tiếp tục phát triển cần nghiên cứu công thức thức ăn viên phù hợp để có thể thay thế nguồn cá tạp.


Quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá lóc hộ gia đình by Sở Khoa học và Công nghệ Long An.




Đăng ký: Bài đăng

Mô hình nuôi cá Điêu Hồng vèo

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

1. Tổng quan


- Vị trí đặt vèo: Đặt vèo lưới trong ao hay trên kênh rạch có mặt nước thoáng rộng, có nguồn nước sạch. Nếu căng vèo trong ao thì ao phải có cống cấp và thoát nước, được thay đổi nước mới thường xuyên. Mực nước trong vèo ổn định chừng khoảng 1 m. Đáp ứng các yêu cầu trên, có thể thả cá điêu hồng giống theo kích cỡ và mật độ như sau: Cỡ cá có chiều dài trung bình 3 – 5cm/con, thả 60 – 70con/m3vèo nuôi. Cỡ cá có chiều dài trung bình 5 – 7cm/con, thả 50 – 60con/m3 vèo nuôi.


- Thời điểm thả giống: tốt nhất là lúc trời mát, cho túi chứa cá vào bên trong vèo lưới, ngâm chừng 20 – 30 phút để cho cá quen dần với nhiệt độ môi trường nước. Tại nơi thả cá giống có thể cho một ít muối hột hoặc thuốc kháng sinh để sát trùng cá. Sau đó kéo mạnh hai góc đáy túi cho cá bơi ra toàn bộ. Nếu vận chuyển cá bằng các dụng cụ khác thì cách tắm cá cũng thực hiện như trên.


2. Quản lý chăm sóc

- Cần phải thường xuyên thay cấp nước sạch, theo dõi màu sắc, mùi vị… của nước để tránh hiện tượng nước bị nhiễm độc chất hữu cơ hay bị thiếu oxy. Thường xuyên kiểm tra theo dõi tình trạng ăn mồi của cá, động thái bơi lội, màu sắc cá…


- Loại thức ăn: Thức ăn cho cá điêu hồng thiên về nguồn gốc thực vật như cám, bắp xay nhỏ, bã đậu, bèo tấm, rau muống…, Nói chung cá điêu hồng có thể ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, đây là đặc điểm thuận lợi cho nuôi thâm canh. Nhưng do thả cá nuôi trong vèo với mật độ cao, nên cần thiết phải sử dụng thức ăn dạng viên để dễ dàng kiểm soát lượng thức ăn thừa và hạn chế sự thất thoát thức ăn cũng như kiểm soát được chất lượng nước ao nuôi. Thức ăn công nghiệp được sản xuất tại những hãng có uy tín thường có đầy đủ thành phần cơ bản bao gồm các chất dinh dưỡng cần thiết như đạm, vitamin, lipid….


- Số lần cho ăn trong ngày: Theo ý kiến của những người nuôi cá lâu năm, nên cho cá điêu hồng ăn nhiều lần, có thể 3 – 4lần/ngày, vì cá có tập tính khi đói thì lên tầng trên bắt mồi, lúc đã ăn no mồi thì bơi xuống tầng dưới. Cũng theo ý kiến của các nhà chuyên môn, thì cho cá ăn với lượng thức ăn thay đổi theo cỡ cá tăng trọng. Khi còn nhỏ lượng thức ăn chiếm 5 – 7%/trọng lượng cá/ngày, khi cá lớn cho ăn khoảng 2 – 3%. Thường xuyên kiểm tra lượng thức ăn để có thể điều chỉnh kịp thời.


3. Một số bệnh thường gặp ở cá điêu hồng và cách phòng trị

a) Bệnh do ký sinh trùng:

- Các bệnh do ký sinh trùng thường gặp là: bệnh đốm trắng (trùng quả dưa tấn công), bệnh do trùng mặt trời và tà quản trùng, bệnh do sán lá đơn chủ, bệnh do giáp xác ký sinh (Argulus và Ergasilus).


- Cách phòng: Vèo nuôi phải được tẩy rửa vệ sinh để nước trong và ngoài vèo luôn lưu thông. Thường xuyên rải muối hột để sát trùng nước, nồng độ 0,5% trị thời gian dài và 1-2% trong 10-15 phút.


- Cách điều trị: Khi phát hiện cá bị bệnh cần xử lý bằng: Formol nồng độ 25 – 30ml/m3, trị thời gian dài và nồng độ từ 100-150ml/m3 nếu trị trong 15-30 phút; CuSO4(phèn xanh) nồng độ 2 – 5g/m3 trị thời gian dài và từ 20 – 50g/m3 trong thời gian 15 – 30 phút.


b) Bệnh đỏ kỳ đỏ mỏ:

- Bệnh do vi khuẩn Aemomas hydrophia hoặc Edwardsiella tarda gây ra. Cá có dấu hiệu toàn thân xuất huyết, hậu môn sưng lồi, bụng trương to, có dịch vàng hoặc hồng, đầu và mắt cá sưng và lồi ra.


- Cách phòng: Biện pháp đề phòng là tránh thả cá nuôi và hạn chế thay nước lúc giao mùa. Thường xuyên cho cá ăn vitamin C để tăng sức đề kháng.


- Cách điều trị: Bón vôi và khử trùng nước, có thể trộn thuốc kháng sinh vào thức ăn cá, tỷ lệ tuỳ theo tình trạng bệnh. (Chỉ sử dụng những loại kháng sinh được Bộ Thủy sản cho phép).


c) Bệnh trương bụng do thức ăn:

- Thường xảy ra ở các ao, bè do cá ăn thức ăn tự chế không được nấu chín, không đảm bảo chất lượng làm cá không tiêu hóa được, bụng cá trương to, ruột chứa nhiều hơi. Cá bơi lờ đờ và chết rải rác.


- Biện pháp khắc phục là kiểm tra chất lượng và thành phần thức ăn để điều chỉnh lại cho thích hợp. Thường xuyên bổ sung men tiêu hóa (các probiotie…) vào thức ăn.


Mô hình nuôi cá điêu hồng vèo by Trung tâm Khuyến nông An Giang.




Đăng ký: Bài đăng

Thứ Năm, 20 tháng 6, 2013

Nông sản bị ép giá qua nhiều tầng nấc - nongthonviet.com

nongdan24g @ nguontinviet.com


Hiện nay, dù heo, gà, lúa… đang rớt giá mạnh nhưng trên thị trường người tiêu dùng vẫn phải mua thực phẩm với giá rất cao, có khi giá đội lên gấp đôi, gấp ba so với giá gốc mà người nông dân bán ra.


Nông dân thua thiệt


Hơn 4 tháng nay, ông Phạm Văn Quý (xã Mỹ Hòa, huyện Tháp Mười) cứ thấp thỏm vì giá heo cứ rớt theo từng ngày. Đến thời điểm này, sau hơn 5 tháng nuôi, đàn heo 40 con của gia đình ông đã quá lứa xuất bán nhưng không có thương lái đến mua, giá heo chỉ còn 35 – 37 ngàn đồng/kg (tương đương 3,5 – 3,7 triệu đồng/tạ heo (100kg), thấp hơn 1 – 1,5 triệu đồng/tạ so với thời điểm đầu năm 2012). Theo tính toán của ông Quý, với giá này sau khi trừ chi phí ông cầm chắc lỗ từ 500 – 800 ngàn đồng/tạ.




Từ vườn ra chợ, trái cây đã bị “thổi giá” cao gấp nhiều lần


Trái ngược với cảnh rớt giá tại các hộ nuôi, thịt heo tại chợ vẫn bán với giá rất cao. Theo tìm hiểu của chúng tôi, sau khi thu mua tại các hộ nuôi, heo được thương lái tập trung chuyển đến điểm giết mổ với giá tăng thêm khoảng 5.000 đồng/kg. Trên đường đến tay người tiêu dùng, giá hàng hóa lại tiếp tục đội thêm vì phải trải qua rất nhiều công đoạn: thương lái tiếp tục bán cho lò mổ, các lò mổ sau khi hoàn tất các công đoạn giết mổ sẽ bán lại cho chợ đầu mối. Từ đây, thịt heo phân phối đến tiểu thương bán lẻ. Qua các khâu trung gian như vậy, giá thịt heo đã bị tăng thêm từ 20.000 – 25.000 đồng/kg.


Tương tự, giá các loại thực phẩm khác như thịt gà, thịt vịt cũng bị đẩy giá lên cao khi đến điểm bán lẻ, điều này khiến người tiêu dùng và người chăn nuôi đều chịu thiệt. Chẳng hạn, hiện nay gà nòi tại trại được bán từ 60 – 70 ngàn đồng/kg. Nhưng sau khi qua nhiều cấp trung gian, gà thịt nguyên con đến tay người tiêu dùng tại các chợ có giá từ 90 – 120 ngàn đồng/kg; giá gà sau mổ như đùi 100.000 đồng/kg, cánh gà 150.000 đồng/kg… cao gần gấp đôi so với giá bán ra của người chăn nuôi.


Thương lái kiếm siêu lợi nhuận


Không chỉ các sản phẩm vật nuôi bị “thổi” giá qua các khâu trung gian mà lúa, gạo cũng đang trong tình trạng tương tự. Người nông dân trồng lúa trong tỉnh hiện cũng đang điêu đứng vì giá lúa sụt giảm. Hiện nay, sau khi chính sách thu mua tạm trữ được triển khai thu mua được 1 tuần, giá lúa tại ruộng đã nhích lên khoảng 100 – 200 đồng/kg. Tuy nhiên, với giá này người dân vẫn lao đao vì chưa bù lại giá thành. Trong khi đó, trên thị trường lúa xay xát thành gạo được bán với giá khá cao.


Theo ghi nhận của chúng tôi, ngày 19/6, thương lái thu mua lúa tươi ở Tân Hồng với giá 3.800 – 4.900 đồng/kg (tùy loại). Sau khi mua lúa tại ruộng thương lái đã chuyển lên các vựa lúa tại Cầu Xéo (Tiền Giang) xay xát thành gạo bán cho nhà máy với giá từ 9.300 – 9.400 đồng/kg (gạo hạt dài). Từ vựa gạo về các chợ, giá gạo đã tăng vọt thêm 2.000 – 5.000 đồng/kg, lên mức 11.500 – 14.000 đồng/kg. Tăng nhiều so với giá người nông dân bán ra.


Cùng với lúa, nhưng mặt hàng nông sản có giá trị kinh tế cao khác như xoài, quýt, nhãn… hàng năm vẫn được Đồng Tháp cung cấp một số lượng lớn cho thị trường, tuy nhiên việc tiêu thụ nông sản trong tỉnh vẫn phụ thuộc vào hệ thống các thương lái. Hiện nay, kể cả các doanh nghiệp thu mua lúa tạm trữ trên địa bàn tỉnh vẫn “khoán trắng” cho thương lái. Và với quyền quyết định “vận mệnh” đầu ra trong tay, các thương lái dễ dàng ép nông dân từ giá đến chất lượng.


Như vậy, dù là người trực tiếp sản xuất ra hàng hóa nhưng người nông dân không thể quyết định giá bán sản phẩm của mình mà luôn bị lệ thuộc vào thương lái, trung gian… Chính sự lòng vòng này đang đẩy giá những mặt hàng nông sản đến tay người tiêu dùng cao bất hợp lý. Thêm vào đó, tận dụng tình trạng dịch bệnh hoành hành trên gia cầm, vật nuôi… thương lái đã ép giá nông sản của người dân xuống mức rất thấp, nghịch lý này đang chứng minh một điều: mùa dịch bệnh, giá lúa giảm chính là dịp để cho hệ thống thương lái kiếm được siêu lợi nhuận…


Thảo Vy/Báo Đồng Tháp






Nông dân 24giờ mỗi ngày cùng lao động tạo ra sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, những hạt lúa thơm ngon, thực phẩm giàu dinh dưỡng ... và giàu lên nhờ nông nghiệp. Hãy ghé mỗi ngày tại www.nongdan24g.com để có tin nông nghiệp sản xuất mới nhất.





Đăng ký: Bài đăng

Mô hình trồng Nấm Bào Ngư hiệu quả

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

Đã từng gắn chặt với nghề nông, nhưng vì ít đất và mấy phen “trồng – chặt” bởi điệp khúc cây ăn trái được mùa rớt giá, nên có lúc ông Nguyễn Thanh Hải ở ấp An Lợi, xã An Lạc Tây, huyện Kế Sách phải bôn ba xứ người tìm kế mưu sinh. Tuy nhiên, đối với ông, đi làm xa không chỉ tích cóp vốn mà còn học hỏi được những kinh nghiệm hay, những mô hình mới.


- Tháng 9 năm 2010, từ Đà Nẵng trở về, ông Hải mang theo 500 bịch meo nấm bào ngư. Hì hục dựng trại gieo trồng trong sự tò mò lẫn nghi ngờ thành công của bà con lối xóm. Vì thời điểm này, nhiều nguời dân ở đây còn chưa nếm thử nấm bào ngư mùi vị thế nào, huống hồ là cách gieo trồng. Nhưng ông Hải thì rất tự tin vì mình đã tận mắt chứng kiến hiệu quả và học được những kỹ thuật cơ bản.


- Hơn tháng sau, những bịch meo bắt đầu cho nấm, cứ thế ông hái bán hằng ngày kéo dài gần 3 tháng, tổng cộng hơn 400 kg với giá 25.000 đồng/kg, trừ chi phí đầu tư vẫn còn lãi trên 07 triệu đồng. Thành công ngay từ vụ đầu tiên, nên ông không ngần ngại mở rộng diện tích, với trại trồng chủ yếu được dựng bằng cây tạp có sẵn trong vuờn nhà và các mái lợp, mái che thì tận dụng đủ loại bao bì, miễn sao tránh đuợc mưa gió. Cứ vậy, mỗi đợt ông gieo 2.000 bịch meo, sau 1 tháng chăm sóc thì bình quân mỗi ngày thu hoạch khoảng ba bốn trăm ngàn.


- Tuy nhiên nguồn thu này vẫn chưa thể so với đàn gà sao được nuôi bên cạnh. Từ 100 con giống ban đầu, có lúc ông gây bầy lên trên 1.000 con. Gà thịt bình quân 80.000 đồng/kg, còn trứng để ấp làm giống, mỗi quả 10.000 đồng. Với 2 mô hình khá đơn giản được nuôi trồng ngay sau nhà trên diện tích đất chưa đầy 500 m2, nhưng có ngày ông Hải thu nhập cả triệu đồng, và gần như có sản phẩm để bán quanh năm. Ông Hải tâm sự: “Làm mô hình mới, đúng là khó, nhưng cái chính là trước khi bắt tay vào thực hiện, mình phải học hỏi, nắm vững kỹ thuật, vừa làm vừa đúc kết kinh nghiệm đề ngày càng hoàn thiện hơn. Tôi thành công là nhờ chịu khó và tiên phong làm mô hình mới”.


- Không chỉ làm giàu cho mình mà thông qua qua việc cung cấp trứng, giống gà sao và đặc biệt là meo nấm hay những bịch phôi vừa cấy xong cho những hộ lân cận, ông Hải đã và đang tạo nên phong trào trồng nấm bào ngư, nuôi gà sao ở địa phương. Thậm chí nhiều hộ ở xa tận Cầu Kè – Trà Vinh cũng tìm đến ông để học hỏi kinh nghiệm và làm theo mô hình. Ông Nguyễn Văn Huối – một cựu chiến binh ấp An Lợi cho biết: “Ông Hải không chỉ biết cách làm giàu cho mình mà còn vì bà con làng xóm, ai hỏi cũng chỉ, không hề dấu nghề, có nhiều đợt meo nấm đã trộn thành bọc, mắc lên giàn rồi, mà có nguời lại chia về trồng thì Hải cũng sẵn sàng chia lại cho anh em, rồi vợ chồng hì hục làm tốp khác”.


- Nuôi gà sao hay trồng nấm bào ngư hiện nay đã không còn mới, nhưng nhờ tiên phong thực hiện khi còn ít người làm; vừa bán sản phẩm vừa cung cấp giống cho những hộ đi sau nên ông Hải đã đạt kết quả cao. Một lần nữa, yếu tố chịu khó học hỏi, tìm tòi sáng tạo những mô hình mới hiệu quả, phù hợp với thực tế, nhu cầu thị trường chính là yếu tố thành công của nhà nông hôm nay.


Mô hình trồng nấm bào ngư hiệu quả by Thông tin điện tử Sóc Trăng.




Đăng ký: Bài đăng

kinh nghiem nuoi ca dieu hong trong ao

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

Kinh nghiệm nuôi cá Điêu Hồng trong ao

Ông Nguyễn Văn Thiền, ngụ ấp Mỹ Khánh, xã Mỹ Hòa Hưng nuôi cá điêu hồng mang lại thu nhập cao, cải thiện cuốc sống gia đình. Sau đây là những kinh nghiệm về kỹ thuật nuôi mà anh có được sau một vụ nuôi. Ông Thiền chia sẻ: Cá điêu hồng hay còn gọi là cá rô phi đỏ, kỹ thuật nuôi tương tự như nuôi các loài cá nước ngọt khác, tuy nhiên cần lưu ý các điểm cơ bản sau:


- Về môi trường sống: cá điêu hồng thích hợp với nguồn nước có độ pH – 6,2 – 7,5, khả năng chịu phèn kém nhưng có thể phát triển tốt ở vùng nước nhiễm mặn nhẹ 5 – 12‰ cá sống trong mọi tầng nước.


- Cá điêu hồng ăn tạp thiên về thực vật và có thể ăn mùn bả hữu cơ, do đó nguồn thức ăn cho cá rất đa dạng, bao gồm các loại cám thực phẩm, khoai củ, ngũ cốc,… ngoài ra có thể tận dụng các nguyên liệu phụ phẩm từ các nhà máy chế biến thủy sản (nhu vỏ tôm, râu mực, đầu cá,….) hay các phấn phẩm lò giết mổ gia súc để chế biến thành các nguồn thức ăn phụ cung cấp cho cá nuôi. Mặt khác có thể chọn loài ốc bươu vàng làm nguồn thức ăn tươi sống để cho cá ăn.


- Ao nuôi: phải được thực hiện các bước cải tạo theo tuần tự như sau: bơm cạn nước, vét bùn nền đáy ao, bón vôi khử phèn độc tố tiềm tàng trong ao với liều lượng từ 10 – 15 kg/100m2, phơi ao khoảng 1 tuần rồi tiến hành cấp nước sạch vào ao qua cống có ngăn lưới ở miệng công không cho cá tạp và cá dữ vào ao nuôi. Chọn ao có diện tích từ 500 – 1.000m2, độ sâu từ 0,8 – 1,5m và phải chủ động cấp thoát nước khi cần thiết.


- Mật độ: có thể nuôi đơn cá điêu hồng trong một ao hoặc nuôi ghép với nhiều loại cá khác như: cá sặc rằn, cá chép, cá hường, cá rô phi vằn… Nếu nuôi cá điều hồng là chủ yếu: nên nuôi với mật độ từ 5 – 8 con/m2.


- Lượng thức ăn: tùy theo mức độ sử dụng của cá, trung bình bằng 5 – 7% trọng lượng cá, cần bố trí các sàn ăn trong ao để kiểm tra lượng thức ăn hàng ngày, sử dụng nhiều sàn ăn để cá lớn, cá nhỏ đều được ăn. Tránh dư thừa thức ăn gây lãng phí và ô nhiễm nguồn nước, lượng thức ăn nên chia làm 2, cho ăn vào buổi sáng sớm và buổi chiều mát. Theo dõi thường xuyên tình hình nước trong ao (màu sắc, mùi vị …). Nếu thấy nước bẩn thì cần phải thay nước sạch cho ao nuôi tránh hiện tượng thiếu oxy.


- Thu hoạch: cá nuôi khoảng 7 – 8 tháng là có thể thu hoạch được, vào thời gian này cá đạt trọng lượng từ 0,4 – 0,6kg/con, nếu được chăm sóc tốt, trong trường hợp cá lớn đều thì thu hoạch 1 lần, nếu không đều thì thu hoạch những con lớn trước, con nhỏ để lại nuôi tiếp 1 – 2 tháng sau sẽ thu hoạch tiếp.


Kinh nghiệm nuôi cá điêu hồng trong ao by Cty Hùng Vương Tây Nam.




Đăng ký: Bài đăng

Giá cá Điêu Hồng nhảy vọt

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

Những ngày đầu tháng 6, giá cá điêu hồng tại vùng ĐBSCL tăng cao kỷ lục, lên mức 41.000 – 42.000 đồng/kg.


- Mức giá này tăng hơn 3.000 – 4.000 đồng/kg so với hồi cuối tháng 5 và tăng 10.000 – 13.000 đồng/kg so với mức giá đầu năm 2013. Đây cũng là mức thu mua cá điêu hồng cao kỷ lục trong khoảng thời gian từ năm 2012 trở lại đây.


- Với giá này, chủ bè cá có thể thu lãi từ 11.000 – 13.000 đồng/kg, trung bình mỗi bè cá sản lượng từ 5 tấn, nông dân có thể thu lãi trên 50 triệu đồng. Bên cạnh đó, nhiều tiểu thương tại chợ Bình Điền cho hay, giá cá điêu hồng bán sỉ tại đây cũng đã tăng lên mức 46.000 – 48.000 đồng/kg trong khi giá cá ở các chợ dân sinh đã lên mức 55.000 đồng/kg, tăng gần 10.000 đồng/kg so với thời điểm cách đây vài tháng.


Giá cá điêu hồng nhảy vọt by Tin tức.




Đăng ký: Bài đăng

Nông dân nuôi tắc kè thu 50 triệu/năm - nongthonviet.com

nongdan24g @ nguontinviet.com


Tận dụng mảnh đất nhỏ sát bờ ao, gia đình ông Nguyễn Thành Lũy (ngụ xã Bàu Năng, huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh) đã xây dựng chuồng trại để nuôi hàng ngàn con tắc kè, thu lợi trên 50 triệu đồng/năm.


Trung bình mỗi con tắc kè có giá từ 60.000 - 70.000 đồng.

Trung bình mỗi con tắc kè có giá từ 60.000 – 70.000 đồng.



Ông Lũy cho biết, ban đầu nhà ông thả cá và nuôi rắn, nhưng do việc nuôi rắn không hiệu quả nên ông tìm hướng nuôi con mới. Năm 2002, thấy có người nuôi tắc kè, ông cũng nuôi thử nghiệm với số lượng ít. Sau một thời gian ông nhận thấy việc nuôi tắc kè rất dễ, ít tốn công nên mạnh dạn xây dựng chuồng bằng gạch, sàn bê tông trên diện tích gần 20m2 để nhân rộng đàn tắc kè.


Để có giống tắc kè tốt, ông lặn lội xuống tận Trà Vinh tìm mua. Ông bảo, tắc kè ở Trà Vinh thường cho con to, trọng lượng một con có thể đạt 150-170g. Nhờ chịu khó tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm nên đàn tắc kè của gia đình ông phát triển tốt. Cứ hết lứa này lại đến lứa khác sinh sản. Cũng từ đó, số lượng tắc kè trong trại của ông cứ ngày càng tăng lên. Đến nay, sau những lần xuất bán trang trại, ông vẫn duy trì số lượng trên 1.000 con.


Chia sẻ về kinh nghiệm nuôi tắc kè, ông Lũy cho biết đây là loài dễ nuôi, ít bệnh tật, nguồn thức ăn của tắc kè là dế, cào cào và các loại côn trùng nhỏ nên dễ tìm. Bên cạnh đó, nuôi tắc kè cũng mất ít công chăm sóc. Nuôi 1.000 con tắc kè, chỉ cần 1 người là có dư thời gian chăm sóc, đồng thời còn có thời gian để làm thêm nhiều việc khác, bởi 2 ngày mới phải cho tắc kè ăn 1 lần.


Tắc kè nuôi trong vòng 1 năm đạt trọng lượng từ 80-100 gam. Riêng về đầu ra của tắc kè, ông Lũy cho rằng không hề lo lắng khi hiện nay giá tắc kè trên thị trường ở mức rất cao, trung bình mỗi con giá từ 60.000 – 70.000 đồng.


Ông Lũy cho biết, nuôi tắc kè “làm chơi” nhưng “ăn thật”. Người nuôi bỏ ra một đồng vốn thì thu lại được một đồng lời. Do vậy mặc dù “làm chơi” nhưng mỗi năm gia đình ông cũng thu về trên 50 triệu đồng.


Theo Báo Dân Việt






Nông dân 24giờ mỗi ngày cùng lao động tạo ra sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, những hạt lúa thơm ngon, thực phẩm giàu dinh dưỡng ... và giàu lên nhờ nông nghiệp. Hãy ghé mỗi ngày tại www.nongdan24g.com để có tin nông nghiệp sản xuất mới nhất.





Đăng ký: Bài đăng

Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013

Bạc mặt vì cá chết - nongthonviet.com

nongdan24g @ nguontinviet.com


Xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, là nơi có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn nhất huyện Phú Vang, với 662ha diện tích, trong đó có 334ha nuôi chắn sáo trên phá Tam Giang, 328ha nuôi cao triều và hạ triều bằng phương pháp ngăn đập.


Là khu vực chuyên canh nuôi thủy sản nước lợ, đây là nơi cung cấp chủ yếu các loại cua, tôm và đặc biệt là cá dìa cho địa bàn tỉnh Thừa Thiên – Huế. Nghề này là nguồn thu nhập chủ yếu của người dân địa phương. Tuy nhiên, từ đầu tháng 4 đến nay, hàng trăm hộ dân nuôi cá lâm vào cảnh trắng tay do nạn cá chết hàng loạt mà chưa tìm ra được nguyên nhân.











Ông Hà Xuân Vạch kiểm tra và thu nhặt số cá chết trong hồ nuôi của mình.

Ông Hà Xuân Vạch kiểm tra và thu nhặt số cá chết trong hồ nuôi của mình.



Theo UBND xã Phú Xuân, khu vực cá chết nhiều nhất tập trung chủ yếu ở 2 thôn tái định cư Lê Bình và Thủy Diện, nơi thực hiện phương pháp nuôi chắn sáo trên phá Tam Giang, với tỷ lệ cá chết lên đến 80-90%, các thôn còn lại lượng cá chết rải rác từ 40-60%.


Ông Hà Xuân Vạch- Chi hội trưởng Chi hội Nghề cá thôn Thủy Diện cho biết: “Từ khi tôi bắt đầu làm nghề nuôi cá đến nay, đây là lần đầu tiên xảy ra tình trạng cá chết hàng loạt như thế này. Trung bình cứ mỗi ha nuôi, bà con thua lỗ đến gần 30 triệu đồng tiền cá giống, chưa kể công chăm sóc và thức ăn”. Cũng theo ông Vạch, cứ hộ dân nào có diện tích nuôi và thả giống lớn thì càng chịu thiệt hại nặng, trong đó có một số hộ điển hình như Trần Tám, Phan Lào, Hà Dũng… thiệt hại mỗi hộ đến hàng trăm triệu.


Trung bình cứ mỗi ha nuôi, bà con thua lỗ đến gần 30 triệu đồng tiền cá giống, chưa kể công chăm sóc và thức ăn”.Ông Hà Xuân Vạch


Ông Nguyễn Văn Dũng- Phó Chủ tịch UBND xã Phú Xuân cho biết: “Sau khi phát hiện sự việc, UBND xã đã cùng với Chi cục Bảo vệ thủy sản tỉnh và các cấp trên tiến hành kiểm tra. Kết quả cho thấy, nguyên nhân chủ yếu là do một loài ký sinh trùng (chưa rõ tên, loài) gây hại cho cá hoành hành.


Bên cạnh đó, nhiều người nuôi cá cũng đã phát hiện ra loài ký sinh trùng này từ lâu, nhưng chưa bao giờ thấy xuất hiện tràn lan như đầu năm nay. UBND xã đã cho rải vôi, hay sử dụng chlorine để diệt khuẩn nhưng không mang lại hiệu quả. Các hộ nuôi nhìn cá chết mà không biết phải làm gì để ngăn chặn.


Theo thông tin từ Chi cục Nuôi trồng thủy sản tỉnh Thừa Thiên- Huế, hiện tượng cá chết hàng loạt ở xã Phú Xuân và các địa phương khác ven phá Tam Giang chủ yếu là do mật độ nuôi dày đặc, cộng thêm việc chuyển biến thời tiết ít mưa lũ, dẫn tới việc tạo điều kiện cho loài ký sinh trùng phát triển, hủy hoại đàn cá.


Anh Tuấn – Thành Hiệp/Báo Dân Việt






Nông dân 24giờ mỗi ngày cùng lao động tạo ra sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, những hạt lúa thơm ngon, thực phẩm giàu dinh dưỡng ... và giàu lên nhờ nông nghiệp. Hãy ghé mỗi ngày tại www.nongdan24g.com để có tin nông nghiệp sản xuất mới nhất.





Đăng ký: Bài đăng

Cách xử lý Măng Cụt ra trái nghịch vụ

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

Măng cụt được trồng chủ yếu ở Nam bộ, trong đó đồng bằng sông Cửu Long hiện có hơn 5.000 ha, sản lượng khoảng 4.500 tấn, trong đó có 1/3 diện tích đang cho trái. Bến Tre hiện có gần 4.500 ha, là tỉnh đã công bố chính thức chọn măng cụt là cây trồng chủ lực để đầu tư phát triển theo hướng thâm canh.



- Để cho mùa sau ra trái sớm và chất lượng, sau thu hoạch mùa trước cần làm mấy việc sau: Thứ nhất, bón 3 kg phân đầu trâu AT1 + 30 kg phân ủ hoai + 50 gam RICHO-MS/cây có tán 6 – 8 mét, tưới nước đều. Thứ hai là tỉa bỏ cành vượt, cành cấp một vượt ra khỏi khung tán và cắt bỏ những cặp lá đầu cành trên toàn bộ tán lá. Làm hai việc này càng nhanh càng tốt.


- Hai tuần sau, dùng MS-THIORÊ hoặc FOOD-MS1 phun sương ướt đều tán cây. Sau hai đến ba lần phun, cây sẽ nhú đọt đồng loạt. Khi đọt non nhú được 01 tuần, dùng FOOD-MS1 phun hai lần, 10 ngày một lần nữa, giúp đọt lá phát triển mạnh chuẩn bị ra hoa.


- Xử lý ra hoa cũng đòi hỏi trình độ vì tạo được đọt non phát triển chưa hẳn là ra hoa. Khi đọt non được 05 tuần tuổi bón 02 kg phân đầu trâu AT2 cùng 02 kg HUMICH/cây. Muốn có hiệu quả nhanh, thì dùng 100 gam MS hòa nước xịt đều trên cây. Một tuần sau dùng FOOD-MS2 hoặc F-PO phun sương cho ướt đều hai mặt lá cây hai lần, cách nhau 07 ngày/lần. Làm vào đầu tháng 10 âm lịch để thu hoạch đầu tháng 04 năm sau.


- Có hai cách kích thích cây ra hoa sớm và đồng loạt: Thứ nhất, khi đọt non 09 tuần thì siết nước (tạo khô hạn, rút nước trong mương và phủ nylon trên mặt liếp. Khoảng 2 – 4 tuần thấy lá non có biểu hiện héo thì tưới thật nhiều, 5 – 7 ngày sau tưới lần nữa để mặt liếp đủ ẩm. Thứ hai, là khất gốc (khoanh vỏ). Cách làm này chỉ áp dụng cho những vườn khó tạo khô hạn, thì khi đọt được 9 – 10 tuần tuổi, khoảng ngày 15 tháng 10 (âm lịch), tiến hành khất gốc xung quanh thân. Chỉ khất phần vỏ, không được chạm vào gỗ trong thân, vết khất cách mặt đất khoảng 1 mét.


mang cut sai trai


- Sau khi lá tươi trở lại hoặc khấc gốc 2 hoặc 3 ngày là cho cây ra hoa đồng loạt bằng cách dùng thuốc kích thích ra hoa C.A.T + FOOD-MS2 phun sương đều hai mặt lá cây một lần. Khoảng 10 – 20 ngày sau khi tưới nước lại và phun thuốc, cây sẽ nhú chồi hoa. Từ khi hoa nhú đến hoa nở khoảng 30 – 45 ngày. Muốn đậu trái tốt, nên phun hai lần thuốc đậu trái C.A.T hoặc HCR cách nhau 10 ngày một lần.


- Nuôi trái cũng là vấn đề quan trọng. Khi trái đậu hai tuần, bón 02 kg phân đầu trâu AT3 và 02 kg HUMICH/cây, chia làm hai lần. Muốn cho cung cấp nhanh dinh dưỡng nuôi trái thì bón 400 gam MS hòa với 04 lít nước xịt cho một cây. Đồng thời, dùng HCR phun hai lần, 07 ngày/lần. Sau đó dùng thuốc dưỡng trái kết hợp FOOD-MS4 phun 3 – 4 lần, 10 ngày một lần giúp cho trái to, chắc, ngon ngọt và hạn chế hiện tượng xì mủ, sượng.


Cách xử lý măng cụt ra trái nghịch vụ by Sở KHCN Bến Tre.




Đăng ký: Bài đăng

Cách phòng bệnh thối trái trên Chôm Chôm

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

Chôm chôm là loại cây ăn trái được trồng khá phổ biến vì đây là loại cây ăn trái mang lại hiệu quả kinh tế cao. Với mức độ thâm canh ngày càng nhiều, sâu bệnh hại cũng gia tăng nhất là bệnh thối trái phát triển mạnh trong mùa mưa. Bệnh này không những làm giảm năng suất nghiêm trọng mà còn ảnh hưởng rất lớn đến giá trị thương phẩm của trái, do đó việc phòng trừ bệnh cho trái là thật sự cần thiết cho nhà vườn.



1. Các dạng bệnh thối trái

a) Bệnh thối khô:

Bệnh thối khô do nấm Oidium sp. gây hại trên cành non, lá non, hoa và trái non. Mùa ra hoa cũng là mùa bệnh thường xuyên xuất hiện. Đặc trưng của bệnh là vết bệnh bao phủ một lớp phấn màu xám trắng của các bào tử nấm và lây lan rất nhanh. Bệnh nặng làm cho các chùm hoa bị cong queo và khô dần. Trên trái non bị bệnh, đầu gai bị đen và lan dần vào trong làm trái bị biến dạng, khô đen và đeo bám trên chùm (nên gọi là bệnh thối khô). Bệnh gây hại nặng trên những chùm trái phơi ra ngoài nắng.


b) Bệnh thối nhũn:

- Bệnh thối nhũn do nấm Phytophthora sp. gây nên, vết bệnh đầu tiên là những vùng nâu nhỏ trên trái. Bệnh nặng, vết bệnh lan dần từ vùng cuống trái xuống bên dưới hoặc từ đít trái vào bên trong, thịt trái nhũn, chảy nước, có mùi hôi chua và rụng sớm. Vào buổi sáng có thể thấy những tơ nấm trắng phát triển trên vết bệnh ở vỏ trái. Bệnh thường gây hại nặng cho những chùm trái bên dưới và bên trong tán cây gần mặt đất. Ngoài ra, bệnh còn gây hại giai đoạn sau thu hoạch, trong quá trình tồn trữ và vận chuyển.


- Bệnh gây hại nặng trên các vườn trồng quá dày, rậm rạp. Bệnh phát sinh và phát triển mạnh trong mùa mưa, ẩm độ cao và nhất là những loại trái chùm như nhãn, sầu riêng, chôm chôm,…lây lan rất nhanh từ trái này sang trái kia, trong vài ngày có thể rụng cả chùm trái chỉ còn trơ cọng. Sâu đục trái cũng tạo điều kiện cho nấm bệnh phát triển mạnh. Bệnh lây lan bằng bào tử do gió hoặc côn trùng mang đi.


2. Cách phòng trị

- Nên tạo điều kiện cho cây khỏe, sinh trưởng mạnh bằng các biện pháp canh tác như bón phân cân đối, tránh bón thừa đạm, tỉa cành thông thoáng, vườn cây có hệ thống thoát nước tốt, tránh ngập úng cho cây.


- Dùng nạng chống đỡ những chùm trái bên dưới tán, hạn chế cho chúng tiếp xúc gần mặt đất. Tỉa bỏ các cành khuất trong tán.


- Trồng mật độ vừa phải, tránh trồng xen quá nhiều cây bóng râm sẽ tạo ẩm độ cao trong vườn làm bệnh phát triển mạnh.


- Thu gom và tiêu hủy những trái bệnh để hạn chế lây lan.


- Bón phân hữu cơ hoai mục+chế phẩm sinh học Trichoderma để tạo nguồn vi sinh vật đối kháng.


- Khi bệnh chớm xuất hiện, tùy theo bệnh thối khô hay thối nhũn mà chọn thuốc xử lý. Có thể sử dụng một trong các loại thuốc sau:

+ Bệnh thối khô: Kumulus 80DF, Sulox 80WP, Plant 50WP (20g/8lít nước), Tilt 250 EC (3-5 ml/bình 8 lít).

+ Bệnh thối nhũn: Aliette 80WP, Mataxyl 25WP, Mexyl-MZ 70WP (15 – 20g/8 lít), phun 2 – 3 lần, mỗi lần cách nhau 7 ngày. Nếu những vùng có áp lực bệnh cao có thể phun ngừa khi trái còn nhỏ. Chú ý bảo đảm đúng thời gian cách ly để nông sản được an toàn không ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Khi tồn trữ và vận chuyển nên loại bỏ hoàn toàn những trái bị bệnh để tránh lây lan.


Cách phòng bệnh thối trái trên chôm chôm by Sở KHCN Bến Tre.




Đăng ký: Bài đăng

Đời Sống & Sức Khỏe

Nguồn Tin Cập Nhật

Tags

Shrubby St. John's Wort