Tin tức nông nghiệp

Shopping Around

Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013

Nuôi Tép Bạc Bông có nên chăng

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

Trước tình hình nuôi tôm sú và tôm thẻ đang có dấu hiệu xấu đi, nhiều nông dân ở Trà Vinh đã chuyển sang thả nuôi tép bạc bông. Tuy nhiên, vấn đề khiến không ít người băn khoăn hiện nay là việc xác định nguồn gốc cũng như mức độ thích nghi của loài thủy sản này.


1. Nguồn gốc chưa rõ

- Theo UBND xã Hiệp Mỹ Đông, đến thời điểm này, toàn xã có 8 hộ chuyển sang nuôi tép bạc bông với diện tích hơn 30 ha, trong đó có 3 hộ đã thu hoạch. Các hộ nuôi loài tép này đều thu được lợi nhuận, vì nuôi với mật độ thấp. Tuy sản lượng thu hoạch không cao, nhưng chưa xảy ra tình trạng nhiễm các loại bệnh. Ông Huỳnh Tấn Thuận, Phó chủ tịch UBND xã Hiệp Mỹ Đông, cho biết xã không có chủ trương khuyến khích bà con chuyển sang nuôi loài thuỷ sản này. Nhưng khi một số bà con đi tìm hiểu để nuôi thử, xã không thể ngăn cấm. Tuy nhiên, xã cũng khuyến cáo đây là loài thuỷ sản chưa được các ngành chuyên môn xác định và cho phép nuôi đại trà.


- Để có được nguồn con giống, bà con nuôi tôm ở Trà Vinh đã liên hệ với 1 cơ sở ương dưỡng con giống tôm thẻ chân trắng ở H.Thạnh Phú (Bến Tre). Cơ sở này đã giới thiệu tép bạc bông là loại giống mới, giá chỉ khoảng 40 đồng/con loại post 10 và được bà con mua về nuôi thử cho đến nay.


- Ông Trần Văn Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Nuôi trồng thuỷ sản tỉnh Trà Vinh, cho biết loài này có thể cũng là tôm thẻ chân trắng, do các cơ sở sản xuất giống ở Cà Ná (Bình Thuận) cung ứng cho người nuôi, trong đó có một số tỉnh phía Nam. Còn tên tép bạc bông có thể là do cơ sở mua về ương dưỡng và tự đặt để dễ bán hơn.


- Theo các hộ nuôi, loài thuỷ sản này có dòng đời khá ngắn, chỉ khoảng 3 tháng là cho thu hoạch. Mật độ nuôi cũng khá thấp, từ 20 – 60 con/m2. Do đó, để chứng minh loài thuỷ sản này có thích hợp với mật độ nuôi công nghiệp hay không, rất cần đến những công trình nghiên cứu của các nhà chuyên môn.


2. Khả năng kháng bệnh

- Theo một số hộ nuôi ở Trà Vinh, tép bạc bông có khả năng kháng được các bệnh nguy hiểm như: đốm trắng, bệnh hoại tử gan tuỵ… Thêm vào đó, chi phí nuôi tép bạc bông khá thấp, hầu như không sử dụng các loại hoá chất, thuốc thú y và một số sản phẩm bổ sung như khi nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng.


- Ông Phan Văn Nhịp (ở ấp Hậu Bối, xã Hiệp Mỹ Đông, H.Cầu Ngang) vừa thu hoạch tép bạc bông, lãi hơn 30 triệu đồng. Ông Nhịp kể sau Tết Nguyên đán, ông tìm mua con giống tôm thẻ chân trắng về thả nuôi thay tôm sú. Do nguồn giống tôm thẻ khan hiếm, nên ông được một người ở xóm giới thiệu giống tép bạc bông. Từ ao nuôi tôm sú trước đây, ông bón thêm vôi, thuốc cá, duy trì độ mặn khoảng 10%0 và thả 70.000 con giống. Mỗi ngày ông cho ăn 3 lần, bằng thức ăn của tôm thẻ chân trắng. Sau 1 tháng, ông lắp thêm 2 giàn quạt để bổ sung ô xy. Trong suốt quá trình nuôi chỉ cần bón thêm vôi Dolomite và một ít khoáng bổ sung cho tép mau lớn. Sau gần 3 tháng, ông thu hoạch ao nuôi, tép bạc bông đạt trọng lượng bình quân 75 con/kg.


- Chúng tôi tiếp tục tìm đến ao nuôi của ông Phan Văn Út (ngụ cùng ấp Hậu Bối). Ông Út kể thấy có nhiều người nuôi loài tép này đạt hiệu quả cao và ít bị nhiễm bệnh, nên ông đã dành 2 ao nuôi tôm sú trước đây để thả nuôi tép bạc bông. Ao nuôi thứ nhất, ông thả 50.000 con giống. Ao nuôi thứ hai thả 40.000 con. Hằng ngày, mỗi khi nước lớn, ông mở miệng cống để nước ngoài kênh tràn vào ao và không dùng bất cứ biện pháp nào để cách ly mầm bệnh. Trong khi đó, xung quanh có rất nhiều ao nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng bị thiệt hại đã thải nước ra hệ thống kênh mương. Ông khẳng định loài tép này vẫn phát triển bình thường và có khả năng thích ứng với nguồn nước bị ô nhiễm. Qua 2 tháng thả nuôi, tép trong ao không có biểu hiện bị nhiễm bệnh như các loài tôm sú hay tôm thẻ chân trắng.


Nuôi tép bạc bông có nên chăng by Báo Thanh niên.




Đăng ký: Bài đăng

Nuôi tôm ở Cà Mau: Từ quảng canh cải tiến đến phát triển bền vững

@ nguontinviet.com

Được nuôi với diện tích lớn từ năm 2010 (1.030 ha), đến năm 2012 (22.000 ha) mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến (QCCT) đã trở thành hình thức nuôi chính, góp phần tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Cà Mau.

Nhiều ưu điểm


Năm 2012, toàn tỉnh Cà Mau có trên 266.735 ha nuôi tôm; trong đó, nuôi tôm QCCT khoảng 22.000 ha, năng suất trung bình 650 kg/ha (2011), cao hon so với các hình thức nuôi tôm khác (tôm - lúa, tôm - rừng: 350 - 400 kg/ha); và đạt hơn 14.000 tấn năm 2012. Ông Châu Công Bằng, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Cà Mau cho biết, Cà Mau có thế mạnh nuôi tôm bằng nhiều hình thức, nuôi tôm QCCT đã được đầu tư và là một trong những hình thức nuôi tôm chính của địa phương.


Theo ông Ngô Thanh Lĩnh Sở NN&PTNT Cà Mau: Từ năm 2010 đến nay, diện tích và năng suất nuôi tôm QCCT liên tục tăng. Nuôi tôm QCCT hiện đang được tỉnh triển khai tại 8 huyện và TP Cà Mau, đặc biệt tại huyện Đầm Dơi (19.000 năm 2013), Trần Văn Thời...


z300-con-tom-452-


Nuôi tôm quảng canh cải tiến góp phần phát triển hiệu quả và bền vững ngành tôm - Ảnh: Trần Út


Nuôi tôm QCCT có nhiều ưu điểm; trong đó, đầu tư cơ sở hạ tầng ít tốn kém hơn so với nuôi tôm công nghiệp. Việc đầu tư chỉ gắn với công tác thủy lợi, quá trình chăm sóc đơn giản, không cần áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật. Chất lượng tôm giống không đòi hỏi khắt khe về kỹ thuật, không nghiêm ngặt như sử dụng cho nuôi tôm công nghiệp, ít rủi ro và xảy ra dịch bệnh, ít gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, đây được xem là mô hình sản xuất thân thiện môi trường, an toàn sinh học.


Một hộ nuôi tôm tại huyện Trần Văn Thời cho biết, đầu tư 1 ha đất nuôi tôm QCCT mất khoảng 30 - 40 triệu đồng, so với hình thức nuôi công nghiệp chi phí thấp hơn nhiều, lại đảm bảo được môi trường, phòng ngừa được dịch bệnh, giảm rủi ro. Theo kinh nghiệm những người đã thành công với mô hình này, để tránh tình trạng tôm chết trong quá trình nuôi, trong những ngày đầu khi mua tôm giống về thả nuôi, cần chia đều thời gian và cho ăn mỗi ngày 6 lần, để đảm bảo dinh dưỡng cho tôm. Sau đó giảm dần số lần cho ăn đến mức bình thường, mỗi ngày 2 lần. Khi tôm nuôi được khoảng 2 tháng tuổi cho đến lúc thu hoạch, cho ăn mỗi ngày 4 lần để thúc tôm mau lớn. Trong quá trình nuôi, cần chú trọng sử dụng chế phẩm sinh học bồi bổ gan và đường ruột của tôm.


Hướng tới bền vững


Năm 2013, Cà Mau chủ trương đưa tổng diện tích nuôi tôm QCCT lên 38.000 ha và đến năm 2015 là 55.000 ha. Tuy nhiên, để tăng cường hiệu quả cho người nuôi, việc tuyên truyền đẩy mạnh tập huấn ứng dụng khoa học kỹ thuật trong quá trình nuôi phải được thực hiện rộng rãi. Phải thay đổi được thói quen nuôi theo phương pháp cũ, trông chờ thiên nhiên, khai thác cạn kiệt tài nguyên đất, làm suy thoái môi trường. Các hộ nuôi phải tăng cường áp dụng biện pháp kỹ thuật, kết hợp với quản lý chất lượng con giống, thức ăn, vật tư phục vụ nuôi tôm, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm.


Ông Châu Công Bằng cũng nhấn mạnh, khó khăn với người nuôi tôm QCCT là tình trạng dịch bệnh trên tôm nuôi liên tiếp xảy ra, đến nay chưa có giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn hiệu quả. Môi trường nước phục vụ nuôi tôm ngày càng có dấu hiệu ô nhiễm do người dân và các cơ sở sản xuất còn thiếu ý thức, việc xả nước thải trực tiếp ra sông là nguyên nhân chính gây ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến sản xuất. Vì vậy, cần sự tham gia, quản lý của cộng đồng trong phòng ngừa dịch bệnh. Qua đó nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường, hình thành mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dưới sự quản lý của các hợp tác xã, tổ hợp tác, chi hội sản xuất... Ngoài ra, các đơn vị cần quan tâm chỉ đạo chuyển đổi sản xuất, xây dựng các chương trình, kế hoạch và giải pháp cụ thể; phân công trách nhiệm cho từng đơn vị chuyên môn; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch các đơn vị, cá nhân được giao.


>> Ứng dụng khoa học kỹ thuật sẽ giảm được rất nhiều rủi ro trong quá trình sản xuất, cũng như bảo vệ môi trường và tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt. Thành công của mô hình sẽ góp phần đảm bảo ngành tôm phát triển hiệu quả và bền vững.


Theo thuysanvietnam.com.vn





Đăng ký: Bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

Ngọt, Đắng Cùng Cây Mía Ở Cà Mau

@ nguontinviet.com



Lưu ý:


(*) Bắt buộc nhập thông tin


Phần nội dung bà con không được nhập quá 4.000 ký tự


Gửi ý kiến là nơi để bạn đọc thảo luận, thắc mắc và chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm với tin bài 2 Lúa đã đăng. 2 Lúa hoan nghênh đón nhận và xuất bản những ý kiến khách quan, có tính xây dựng, tôn trọng cộng đồng. 2 Lúa kiểm duyệt, biên tập các ý kiến của bạn đọc trước khi xuất bản. 2 Lúa có quyền từ chối bất cứ ý kiến, lời bình nào không hợp thuần phong mỹ tục; các ý kiến cực đoan; không tôn trọng người khác. Nội dung viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc sai chính tả sẽ không được xuất bản; nội dung quảng cáo, ngôn ngữ html và đường link (đến những nôi dung không hợp lệ) đều không được xuất bản. Trân trọng cám ơn quý bạn đọc!






Đăng ký: Bài đăng

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2013

Dưa hấu giá rẻ bày bán tràn lan: Dưa TQ hay dưa Việt? - nongthonviet.com

nongdan24g @ nguontinviet.com

Trạm trưởng Trạm kiểm dịch Tân Thanh (Lạng Sơn) – một trong những cửa ngõ xuất nhập khẩu nông sản, rau củ, trái cây chủ yếu giữa Việt Nam và Trung Quốc, cho biết, đó hoàn toàn là dưa được trồng ở trong nước.


Dưa “ngập” đường

Hơn 1 tháng nay, ở Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang… cũng như nhiều địa phương trong cả nước, người dân thực sự sửng sốt khi ra chợ gặp dưa hấu giá rẻ chưa từng có: chỉ 5.000 – 6.000 đồng/kg, loại chất lượng hơn cũng chỉ giá 8.000 đồng trong khi hồi tháng trước, tại các đại lý, cửa hiệu vẫn bán tới 21.000 – 25.000 đồng/kg. Vậy là giá dưa đã rớt tới 4-5 lần so với trước.


Giá bán đã rẻ như cho mà còn ngạc nhiên hơn là tại các chợ đầu mối như Long Biên (Hà Nội), Gia Lộc (Hải Dương), Thổ Tang (Vĩnh Phúc)… dưa từ khắp vùng ồ ạt đổ về chất đống như “núi”, các thương lái tha hồ chọn để chở đi các tỉnh tiêu thụ. Tại Hà Nội, nhiều tuần nay, từng đống dưa xuất hiện lù lù ở nhiều điểm, nhiều tuyến đường dẫn vào nội đô.











dua-hau
Dưa bán đầy các ngả đường với giá chỉ 6.000-8.000 đồng/kg, còn thu mua tại ruộng chỉ 1.000 đồng/kg.

Trên đường Lê Văn Lương, đại lộ Thăng Long, Hồ Tùng Mậu… dưa la liệt mà khách cũng chỉ thưa thớt, các chủ sạp phải mắc võng, dựng lều ngủ qua đêm để “canh”. Nhiều nơi, xe chở dưa lưu động (loại 5 tạ) vào tận khu dân cư để “chào hàng”. Để bán tháo khoán, sạp nào cũng thi nhau treo biển “đại hạ giá”, rao dưa Sài Gòn 6.000 đồng hoặc 8.000 đồng/kg. Nếu mặc cả, nhiều sạp sẵn sàng bán 5.000 đồng.


Trước hiện tượng dưa ngập đường, nhiều người dân cho rằng, đó là dưa của Trung Quốc nhập về nên mới rẻ như thế. Do đó, nhiều người không khỏi lo lắng khi đứng trước cả “núi” dưa siêu rẻ mà lại chẳng rõ nguồn gốc thế nào.


Tuy nhiên, bà Bế Thị Thu Hiền, Trạm trưởng Trạm kiểm dịch Tân Thanh (Lạng Sơn) – một trong những cửa ngõ xuất nhập khẩu nông sản, rau củ, trái cây chủ yếu giữa Việt Nam và Trung Quốc, cho biết, đó hoàn toàn là dưa được trồng ở trong nước, không phải dưa Trung Quốc.


“Chúng ta chỉ có xuất khẩu dưa sang Trung Quốc chứ không nhập về. Hơn nữa, hiện đang là mùa dưa chính ở nước ta, nhập về làm sao bán được” – bà khẳng định.


Đi tìm lý do vì sao năm nay dưa nhiều mà giá lại quá thấp như vậy, chúng tôi được biết hai nguyên nhân chính là hiện nhiều địa phương đang thi nhau trồng dưa và lâu nay thị trường dưa của chúng ta lại phụ thuộc chủ yếu vào việc xuất khẩu sang Trung Quốc, trong khi gần đây ở các cửa khẩu phía Bắc liên tục xảy ra ùn tắc, nên dưa ùn ứ.


Bà Bế Thị Thu Hiền xác nhận, mặc dù cả nước đang vào vụ thu hoạch rộ nhưng nhiều tháng nay, tốc độ xuất hàng trái cây sang Trung Quốc rất chậm. Trò chuyện thêm với ông Vy Mạnh Hồng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Tân Thanh, chúng tôi được biết, nếu trước kia mỗi ngày trung bình có khoảng 400-450 xe chở trái cây, nông sản xuất sang Trung Quốc thì gần đây, liên tục xảy ra ùn tắc nên chỉ thông quan được 100-150 xe/ngày. Trong khi lượng xe container, xe tải chở trái cây từ miền Trung, miền Nam vẫn ùn ùn kéo về khu vực Tân Thanh, càng tăng thêm ùn tắc.


Đã chịu thiệt hại, lại bị thương lái Trung Quốc ép giá. Vì vậy, nhiều nhà xe đành ngậm ngùi cho xe quay về bán tháo dọc đường hoặc đổ vào chợ đầu mối với giá chỉ 3.000-4.000 đồng/kg để giảm rủi ro, thiệt hại. Chủ xe Hải nói: “Gần đây, bà con gặp nhiều xe dưa chạy từ Tân Thanh, Lạng Sơn về xuôi cứ tưởng là dưa Trung Quốc, nhưng chính là dưa không xuất khẩu được đành quay lại bán nội địa”.



Nông dân lỗ nặng


Dưa rẻ, thực sự là nỗi vui mừng cho người tiêu dùng, vì chưa bao giờ được mua với giá “giật mình” như thế, nhưng lại chính là nỗi đau “đắng lòng” của hàng vạn nông dân hiện nay.


Chị Vũ Thị Ngọ, một chủ trồng dưa ở xã Gia Hưng (Gia Lộc, Hải Dương) than thở: “Ở chợ, các anh chị ngỡ ngàng khi giá dưa chỉ có 6.000-8.000 đồng nhưng 2 – 3 tuần nay, chúng tôi đang phải bán với giá chỉ có… 1.000 đồng/kg tại ruộng. Muốn bán hơn thì chủ đầu mối người ta không chịu. Đầu tháng còn bán được 2.500 đồng, rồi cứ tụt dần xuống 2.000 đồng, 1.500 đồng… Giá một cân dưa chỉ bằng có hai gói tăm, vậy mà vẫn bán chậm lắm”.


Theo tìm hiểu, không chỉ Hải Dương mà ở Hưng Yên, Hòa Bình, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và cả khu vực Nam Trung bộ, bà con đều đang phải bán dưa với giá rẻ thê thảm như thế. Trước đây, dưa trồng nhiều ở khu vực Nam Trung bộ, miền Tây nhưng gần đây khi giá bán cao, cho thu nhập khá thì hàng loạt địa phương ở miền Bắc cũng thi nhau trồng, không chỉ một vụ mà nhân ra cả ba vụ: xuân, hè thu và đông, trồng kiểu chuyên canh.


Diện tích nhân ra nhanh, đơn cử như ở Hải Dương, theo ông Nguyễn Hữu Dương, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Hải Dương, thì từ 600-700ha đến nay ở đây đã phát triển tới 1.200ha (riêng vụ xuân 2013), còn cả năm là 2.500ha. Đành rằng, địa phương nào cũng muốn bà con nông dân của mình chuyển đổi cây trồng để tăng thu nhập, làm giàu nhưng do không có định hướng, quy hoạch ở tầm cả nước nên mới sinh ra “khủng hoảng thừa” như vậy. Cuối cùng, chịu thiệt vẫn là nông dân.


Bà Vũ Thị Hà, Trưởng phòng Trồng trọt của Sở NN-PTNT tỉnh Hải Dương, tính toán: mỗi sào Bắc bộ (360m²) chỉ cho thu hoạch khoảng 800kg dưa, trong khi chi phí đủ loại là 2 – 2,5 triệu đồng thì với giá bán là 3.000 đồng/kg, bà con cũng chỉ hòa vốn, còn bán với giá 1.000 đồng như hiện nay thì đang lỗ nặng. Muốn lãi, dưa phải bán giá tại ruộng là 5.000 – 6.000 đồng/kg.





Đăng ký: Bài đăng

Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013

Dễ xơi nhầm thịt dê “đểu”! - nongthonviet.com

nongdan24g @ nguontinviet.com

Chó dạt, heo nái già bán chẳng ai mua nhưng qua bàn tay phù phép của các quán ăn, quán nhậu liền biến thành những món thịt dê hấp dẫn.



Rảo một vòng quanh TP, đâu đâu người ta cũng dễ dàng bắt gặp những quán lẩu dê, từ dê núi, trung du đến dê cỏ, bách thảo… Ông Trần Tài, ngụ quận 7 – TPHCM, một người từng mở trang trại nuôi dê ở Ninh Thuận, thốt lên: “Dê đâu mà lắm thế! Dê nuôi ở trang trại chủ yếu để lấy sữa chứ không bán nhiều cho quán xá như vậy. Thực chất, hầu hết các quán đều dùng thịt chó và heo nái thay cho dê”.


Một quán lẩu “dê” ở TPHCM

Một quán lẩu “dê” ở TPHCM. Ảnh: HỒNG THÚY

“Chuyên trị” chó dạt


Thuyết phục mãi, Khiêm, thanh niên làm công cho một quán lẩu dê ở Quốc lộ 50, xã Phong Phú, huyện Bình Chánh – TPHCM, mới chịu lựa lúc vắng người dẫn tôi đến mục kích công đoạn chế biến thịt chó thành thịt dê. Trên sàn nhà xi măng rộng khoảng 15 m2 có khoảng 10 bao đựng chó đã thui sẵn. Khiêm và một thanh niên dùng dao cắt miệng bao, lôi ra từng con chó rồi nhanh chóng xẻ thịt. Những tảng thịt đã ngả màu xám, tanh nồng nặc chứng tỏ chó đã chết nhiều ngày trước đó.


Khiêm cho biết nguồn thịt chó lấy mối từ quận Bình Tân – TPHCM. “Chủ vựa thu mua chó từ khắp nơi. Chó tơ còn sống thì họ để dành bán riêng cho quán thịt chó. Còn chó bệnh, bị đánh bả thuốc hay quá già thì bán cho các quán thịt dê. Nhiều quán dê chuyên trị chó dạt” – Khiêm khẳng định.


Theo Khiêm, để “hô biến” thịt chó thành thịt dê rất dễ dàng, nhất là với loại chó già, thịt đã dai. Khiêm lóc con chó thành từng phần thịt, xương, tứ chi, đầu… rồi quăng vào những thùng chứa lớn. “Quán sẽ ướp lạnh thịt chó với nhiều loại hóa chất. Quan trọng nhất là chất tẩy mùi để át đi mùi chó. Chất này được chủ quán mua ở Chợ Lớn về để sẵn. Chỉ cần ướp chất tẩy khoảng 2 giờ là thịt chó sẽ mất hết mùi đặc trưng ngay” – Khiêm lý giải.


Khiêm đổ những thùng thịt chó đã ngấm chất tẩy mùi ra sàn rồi cùng thanh niên kia mang ủng vào, phun nước và thi nhau đạp lên. “Cho ra hết chất tẩy mùi và chất nhờn” – Khiêm giải thích. Lát sau, những tảng thịt chó chuyển sang màu trắng hồng, lớp da bên ngoài vẫn còn vàng nhạt. Hai thanh niên xắt thịt thành từng miếng theo kích cỡ của mỗi món rồi ướp một lần nữa với chất hương dê, gừng, nghệ và nhiều gia vị khác.


Chưa hết, mở tủ đông, Khiêm lấy ra một tảng mỡ và quả quyết là dê thật, bỏ vào ướp chung với thịt chó đã tẩm hương dê, gia vị. Cứ thế, để khoảng vài giờ là thịt chó đã biến thành thịt dê. Lúc này, thực khách vào quán muốn ăn dê nướng, hầm, xào, lẩu… đều được đáp ứng ngay!


Heo nái già thành… đặc sản


Bà Lan, ngụ quận 4 – TPHCM, từng làm chủ một quán lẩu dê, tiết lộ cả thịt heo nái già cũng được chế biến thành đặc sản. “Heo nái đã đẻ hết lứa thì bán cũng chẳng ai mua. Các quán nhậu lại thích thu mua heo nái già vì giá rẻ như cho mà rất dễ phù phép thành thịt dê. Da heo nái rất dày và cứng, khi thui cũng cho màu sắc như thịt dê. Vì vậy, những con heo nái già bán bên ngoài không được nhưng nhiều quán thịt dê vẫn thu mua với giá tương đương chó dạt” – bà Lan cho biết.


Theo bà Lan, heo nái khi không còn khả năng đẻ nữa thì tuyến sữa dần biến mất, những núm vú chỉ là mớ da bèo nhèo chỉ có cắt bỏ chứ không dùng vào việc gì được. Lúc này, nhiều quán sẽ hô biến mớ da thịt bèo nhèo này thành nầm dê. “Thực khách gọi món nầm dê nhưng rất dễ xơi nhầm thịt heo nái. Dê cái đang đẻ rất quý, ai lại đi giết để lấy nầm bán? Nếu đúng nầm dê thật thì giá phải lên đến 600.000 đồng/kg, lại rất hiếm, cả con dê cái xẻ ra cũng chỉ được khoảng 1 kg” – bà Lan khẳng định.


Quán lẩu dê nơi Khiêm làm công cũng không lạ gì ngón nghề biến thịt heo nái già thành thịt dê. “Mỡ và thịt heo nái sau khi tẩm ướp hóa chất cho mất mùi được ướp thêm chất tạo giòn, dai và nhiều loại hóa chất khác. Sau đó, chúng sẽ được đưa vào máy ép thành từng miếng rồi dùng sả, riềng, gừng, nghệ ướp vào. Thế là đã có cả thùng nầm dê hoàn hảo. Nếu tinh mắt, thực khách có thể dễ dàng nhận thấy món nầm dê dỏm này chẳng bao giờ có da dính vào, chỉ là miếng thịt dai dai giòn giòn” – Khiêm nói.










“Treo đầu dê bán thịt chó”


Chúng tôi thắc mắc tại sao phải dùng thịt chó để giả thịt dê, Khiêm giải thích: “Không phải ai cũng ăn được thịt chó, trong khi thịt dê thì hầu như người nào dùng cũng được. Điều quan trọng là chó dạt giá rất rẻ, khoảng 50.000 – 60.000 đồng/kg; trong khi thịt dê khá hiếm, giá lại lên đến 200.000 đồng/kg, nếu bán đúng thịt dê thì rất khó có lời. Chính vì vậy, nói “treo đầu dê bán thịt chó” trong trường hợp này đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng”.







Đăng ký: Bài đăng

Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2013

Kiến nghị mua tạm trữ 1,5 triệu tấn gạo: Đề xuất 3 phương án mua tạm trữ gạo

@ nguontinviet.com

Ngày 23.5, tại TP.Cần Thơ, Bộ NNPTNT đã tổ chức họp bàn về phương án mua tạm trữ lúa, gạo vụ hè thu 2013 và góp ý kiến cho Dự thảo Quy chế thu mua lúa, gạo tạm trữ để trình Chính phủ thông qua.

Tồn kho gạo lớn


Theo báo cáo của Bộ NNPTNT, tổng sản lượng lúa hè thu vùng ĐBSCL dự kiến trên 9 triệu tấn lúa, sản lượng gạo là 4,652 triệu tấn và gạo hàng hóa là 3,110 triệu tấn sẽ được thu hoạch rộ vào tháng 7 - 8.2013.


240513_nong-thon-moi_lua-gao_dan-viet


Chính sách thu mua, tạm trữ lúa, gạo thời gian qua còn nhiều bất cập.


Trong khi đó, theo dự báo thị trường gạo thế giới năm 2013 tiếp tục diễn biến bất lợi cho xuất khẩu gạo Việt Nam do: Lượng gạo hàng hóa cần tiêu thụ năm 2013 trong nước ở mức cao, chưa kể lượng gạo tồn kho của năm 2012 (theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam- VFA) là 787,45 ngàn tấn. Sản lượng gạo toàn cầu năm 2013 được dự báo tăng đáng kể; đây là vụ thứ 8 liên tiếp cung vượt cầu (năm nay dự báo cung vượt cầu 171 triệu tấn) do đó, dự báo giá gạo thế giới trong thời gian tới khó có biến động tăng, hiện vẫn đang nằm trong xu hướng giảm.

Thứ trưởng Bộ NNPTNT Vũ Văn Tám: "Đối với chính sách mua, tạm trữ gạo, Bộ NNPTNT khuyến khích các thương nhân thu mua gắn với địa bàn vùng nguyên liệu, gắn với cánh đồng mẫu lớn. Song song đó, sẽ nghiên cứu khuyến khích thương nhân, doanh nghiệp gắn với chuỗi giá trị sản xuất, gắn với người sản xuất lúa để nông dân đạt được nhiều lợi ích hơn".


Mặt khác, nhu cầu nhập khẩu của một số quốc gia châu Á được dự báo giảm; cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu ngày càng gay gắt và có nhiều đối thủ mới, nhất là đối với thị trường xuất khẩu gạo phẩm cấp trung bình và thấp cấp...


"Do vậy, để đảm bảo ổn định giá lúa, gạo hàng hóa, ngăn ngừa được hiện tượng sụt giảm giá sâu đặc biệt vào thời điểm thu hoạch rộ, nhằm đảm bảo lợi nhuận tối thiểu cho nông dân, Bộ NNPTNT xây dựng kế hoạch tạm trữ lúa, gạo vụ hè thu năm 2013 để trên cơ sở đó trình Thủ tướng Chính phủ" – ông Nguyễn Trọng Thừa – Cục trưởng Cục Chế biến – Thương mại nông lâm sản và nghề muối nhấn mạnh.


Theo đó, số lượng đề nghị dự kiến thu mua cho tạm trữ vụ hè thu khoảng 1 triệu tấn quy gạo (chiếm khoảng 30% sản lượng hè thu); thời gian thu mua tạm trữ trong khoảng 60 ngày từ giữa ngày 15.6 đến 15.8.


Tại hội nghị, nhiều đại biểu kiến nghị cần tăng sản lượng thu mua tạm trữ lên 1,5 triệu tấn quy gạo. "Cần phải tăng sản lượng thu mua vụ hè thu lên 1,5 triệu tấn quy gạo, việc tăng sản lượng thu mua sẽ góp phần giải quyết được lượng gạo hàng hóa tồn kho của các địa phương" – ông Phan Anh Vũ – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long kiến nghị.


Địa phương khó mua tạm trữ


Tại Hội nghị, Bộ NNPTNT cũng công bố Dự thảo Quy chế mua tạm trữ lúa, gạo tại ĐBSCL. Theo dự thảo, căn cứ vào tình hình thực tế, Thủ tướng Chính phủ sẽ giao cho cơ quan làm đầu mối phân giao và tổ chức mua tạm trữ theo một trong 3 phương án.


Phương án 1: Giao VFA làm đầu mối phân giao cho các thương nhân xuất khẩu gạo thực hiện mua tạm trữ lúa, gạo. Phương án 2: Giao UBND các tỉnh, thành phố ĐBSCL phân giao cho các hộ nông dân, chủ trang trại, tổ hợp tác xã trồng và sản xuất lúa, gạo, các thương nhân thuộc địa bàn tỉnh hoặc ngoài tỉnh thực hiện mua tạm trữ lúa, gạo. Phương án 3: Giao UBND các tỉnh, thành phố làm đầu mối phân giao và tổ chức mua tạm trữ lúa, gạo tại địa bàn trên cơ sở lượng lúa, gạo được phân bổ.


Nhiều đại biểu cho rằng, việc phân bổ mua tạm trữ lúa, gạo giao về địa phương làm "chủ xị" là không khả thi. Vấn đề này cần phải có sự phối hợp chặt chẽ, quy định cụ thể trách nhiệm rõ ràng giữa VFA với lãnh đạo các địa phương, nên giao VFA làm đầu mối phân bổ. Bên cạnh đó, nên phân bổ chỉ tiêu tạm trữ theo sản lượng của từng địa phương, năng lực của từng doanh nghiệp...


Theo nongnghiep.vn





Đăng ký: Bài đăng

Thứ Năm, 23 tháng 5, 2013

Vụ Tôm Sú Nuôi 2013 Còn Nhiều Khó Khăn: Người Nuôi Tôm Tiếp Tục “Lao Đao” Ở Trà Vinh

@ nguontinviet.com



Lưu ý:


(*) Bắt buộc nhập thông tin


Phần nội dung bà con không được nhập quá 4.000 ký tự


Gửi ý kiến là nơi để bạn đọc thảo luận, thắc mắc và chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm với tin bài 2 Lúa đã đăng. 2 Lúa hoan nghênh đón nhận và xuất bản những ý kiến khách quan, có tính xây dựng, tôn trọng cộng đồng. 2 Lúa kiểm duyệt, biên tập các ý kiến của bạn đọc trước khi xuất bản. 2 Lúa có quyền từ chối bất cứ ý kiến, lời bình nào không hợp thuần phong mỹ tục; các ý kiến cực đoan; không tôn trọng người khác. Nội dung viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc sai chính tả sẽ không được xuất bản; nội dung quảng cáo, ngôn ngữ html và đường link (đến những nôi dung không hợp lệ) đều không được xuất bản. Trân trọng cám ơn quý bạn đọc!






Đăng ký: Bài đăng

Mô hình nuôi cá Chẽm hiệu quả ở Cà Mau

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

Phá thế độc canh con tôm, tận dụng diện tích ao nuôi quanh nhà, nhiều hộ dân trong tỉnh Cà Mau có thêm nguồn thu nhập từ mô hình nuôi cá chẽm. Thức ăn chế biến từ cá chẽm được ưu chuộng tại các tỉnh trong khu vực ĐBSCL, TP. Hồ Chí Minh; vì thế cá chẽm có giá trị cao về kinh tế. Từ mô hình nuôi cá chẽm thương phẩm, nhiều nông dân trong tỉnh có thêm nguồn thu nhập ổn định.



- Cá chẽm là loại cá dữ, nên chúng có thể ăn lẫn nhau, nhất là giai đoạn cá còn nhỏ. Tùy theo kích cỡ, người nuôi phải thường xuyên chuyển cá vào các ao khác nhau để nuôi. Mật độ thích hợp nhất là vào khoảng 4 – 5 ngàn con giống/ha; thời gian cho một vụ nuôi từ 7 – 8 tháng. Ao nuôi có độ sâu 1,5m và bố trí sao cho luôn thay nước được, đảm bảo nước trong ao luôn sạch. Nuôi cá chẽm lãi không cao như tôm nhưng giá ổn định, nguồn cá giống nội tỉnh luôn đủ cung ứng.


- Phong trào nuôi cá chẽm ở Cà Mau đang được phát triển mạnh và được nhiều nông hộ nhân rộng. Theo các chủ vựa cá tại thị trấn Đầm Dơi, năm nay giá cá chẽm ổn định và ở mức cao; tuy nhiên nguồn cá chẽm thịt đang khan hiếm, do các tỉnh cần nguồn cá phi lê xuất khẩu rất lớn. Các vựa cá trong khu vực ĐBSCL và TP. Hồ Chí Minh đặt hàng với số lượng ngày càng nhiều, đặc biệt là dịp Tết Dương lịch và Lễ Giáng sinh.


- Theo anh Võ Văn Tình ở ấp Tân Long, xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, sau khoảng 8 tháng thả nuôi bằng hình thức thu hoạch tỉa, anh thu hoạch gần 12 tấn cá thương phẩm. Với giá bán trung bình từ 60 – 100 ngàn đồng/kg, trừ các khoản chi phí, anh lãi hơn 20 triệu đồng. Anh Tình chia sẻ kinh nghiệm: Cá chẽm có tính dữ, vì thế không nên nuôi chung với các loài cá khác, rất dễ gây thất thoát.


- Cá chẽm ít xảy ra dịch bệnh, thời điểm thích hợp nhất để thả giống là vào đầu mùa mưa. Một tháng đầu sau khi thả giống, là giai đoạn chăm sóc đặc biệt, con giống được vèo trong lưới mùng ở một góc ao. Sau một thời gian cá đủ mạnh thì thả ra ao nuôi, nên thả chà trong ao để tạo bóng râm cho cá cư trú. Thức ăn của các chẽm khá đơn giản, là nguồn cá tạp trong vuông tôm, người nuôi chủ yếu “lấy công làm lời”. Muốn thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của cá nuôi, người nuôi cần bổ sung các loại thức ăn: Tấm, cám, ốc,… nấu thành hỗn hợp cho cá ăn.


- Để nghề nuôi cá chẽm thương phẩm bền vững và phát triển trong thời gian tới, thiết nghĩ ngành chức năng cần tiếp tục nghiên cứu và tạo ra giống cá mới thích hợp với môi trường nuôi của tỉnh. Bởi thực tế, cá chẽm chủ yếu sinh trưởng và phát triển ở vùng nước lợ.


Mô hình nuôi cá chẽm hiệu quả ở Cà Mau by Sưu tầm và Tổng hợp.




Đăng ký: Bài đăng

Quỹ Hỗ trợ nông dân vay vốn không thu lãi

@ nguontinviet.com

Theo Thông tư số 69/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với các Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc hệ thống Hội Nông dân Việt Nam, vốn hỗ trợ, giúp đỡ hội viên nông dân được thực hiện dưới hình thức cho vay trợ giúp có hoàn trả (có hạn mức, có kỳ hạn) không thu lãi mà chỉ thu phí.

Resize_of_05


Quỹ Hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn - Ảnh minh họa


Bộ Tài chính nêu rõ, Quỹ Hỗ trợ nông dân hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm hỗ trợ và giúp đỡ hội viên nông dân phát triển sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.


Nguồn vốn hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân được sử dụng để hỗ trợ, giúp đỡ hội viên nông dân xây dựng và nhân rộng các mô hình phát triển kinh tế nhằm xóa đói, giảm nghèo; nâng cao qui mô sản xuất, phát triển ngành nghề; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển các hình thức kinh tế tập thể ở nông thôn; tạo việc làm, thúc đẩy việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp, khai thác tiềm năng, thế mạnh của vùng để tạo ra các loại nông sản hàng hóa, dịch vụ đạt chất lượng, hiệu quả cao.


Vốn hỗ trợ, giúp đỡ hội viên nông dân được thực hiện dưới hình thức cho vay trợ giúp có hoàn trả (có hạn mức, có kỳ hạn) không thu lãi mà chỉ thu phí.


Về thu phí, Quỹ Hỗ trợ nông dân được thu phí trên số vốn cho vay trợ giúp để trang trải các chi phí cần thiết cho hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân. Mức thu phí cho vay trợ giúp đảm bảo bù đắp các chi phí hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân, bảo toàn vốn và đảm bảo mục tiêu hỗ trợ nông dân. Quỹ Hỗ trợ nông dân không được thu thêm bất kỳ khoản phí nào khác ngoài khoản phí cho vay trợ giúp nêu trên.


Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam ban hành biểu phí cho vay trợ giúp để Quỹ Hỗ trợ nông dân thực hiện thống nhất.


Cũng theo Thông tư, Quỹ Hỗ trợ nông dân không được sử dụng nguồn vốn hoạt động để thực hiện các mục đích kinh doanh tiền tệ, đầu tư chứng khoán, kinh doanh bất động sản, đầu tư tài chính và các hoạt động kinh doanh khác.


Thông tư có hiệu lực thi hành từ 15/7/2013.


Theo chinhphu.vn (23/5/2013)





Đăng ký: Bài đăng

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2013

Mô hình nuôi Sò Huyết thương phẩm thu nhập cao

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

Do trong quá trình nuôi ít tốn kém nên con sò huyết hiện nay đang được nhiều người dân xã Đông Thới, huyện Cái Nước (Cà Mau), đầu tư phát triển.



- Anh Trương Quang Khải, ấp Khánh Tư, xã Đông Thới, cho biết, gia đình chỉ hơn 2 công vuông, thu nhập từ con tôm không đủ trang trải, anh thả nuôi thêm sò huyết. Chỉ sau 8 tháng nuôi anh thu hoạch được trên 60 triệu đồng.


- Khi con tôm bấp bênh bởi dịch bệnh, sò thương phẩm lại có giá (sò loại 60 con/kg giá 60.000 đồng; loại 20 con/kg giá 130.000 đồng), kỹ thuật nuôi đơn giản, không cần cho ăn, không sử dụng các loại thuốc, hoá chất, những vùng có thuỷ triều lên xuống và phù sa nhiều là có thể nuôi được sò nên nhiều người dân ở xã Đông Thới rất phấn khởi và mạnh dạn phát triển mô hình sò nuôi trong vuông tôm, các bãi ven sông.


- Hiện tại, các tuyến sông trên địa bàn xã cũng cung cấp một lượng sò giống khá lớn cho người nuôi nơi đây. Nhờ thế, giải quyết khá nhiều công ăn, việc làm mang lại thu nhập cho những hộ nghèo, hộ không đất sản xuất.


- Từ kinh nghiệm nuôi những năm đầu chuyển dịch, anh Trần Văn Út chia sẻ: “Nuôi sò huyết ít xảy ra dịch bệnh và khi có dịch thì hộ nuôi vẫn lấy được vốn và có lãi bởi dịch bệnh thường xảy ra ở giai đoạn sò từ 4 tháng tuổi. Để hạn chế dịch bệnh, người nuôi nên thả dày, khoảng 30 con/m2 là vừa”.


- Phó Chủ tịch UBND xã Đông Thới Lê Hoàng Anh cho biết, chính hiệu quả của con sò huyết mang lại trong 2 năm qua nên từ 2 ấp có dân nuôi sò, nay đã phát triển ra trong toàn xã. Theo đó, xã đang hình thành thêm 5 tổ hợp tác, nâng tổng số đến nay là 8 tổ hợp tác nuôi sò. Bên cạnh đó, xã tiếp tục tập huấn kỹ thuật để người dân thực hiện mô hình hiệu quả hơn.


Mô hình nuôi Sò Huyết thương phẩm thu nhập cao by Sưu tầm và tổng hợp.




Đăng ký: Bài đăng

Xoài cuối vụ giảm giá - nongthonviet.com

nongdan24g @ nguontinviet.com




Hiện xoài đang vào thời điểm cuối vụ, tuy nhiên giá xoài giảm xuống thấp chỉ bằng 1/3 so với giá đầu vụ.


xoai


Giá xoài cát Chu được thương lái đến mua tại vườn chỉ 3.000 – 5.000 đồng/kg, giảm 8.000 – 10.000 đồng/kg so với đầu năm; xoài cát Hòa Lộc 7.000 – 9.000 đồng/kg, giảm 15.000 – 20.000 đồng/kg. Còn các loại xoài tạp, xoài ghép, nhiều nhà vườn bỏ không thu hoạch vì nếu hái bán chỉ được 1.000 – 2.000 đồng/kg vừa tốn chi phí vận chuyển, tốn nhân công hái và khó bán được.


Anh Phan Văn Thành, nhà vườn trồng xoài ở ấp Tịnh Hưng, xã Tịnh Thới (thành phố Cao Lãnh) cho biết: 6 công xoài nhà anh đã thu hoạch gần hết chỉ còn khoảng 500 – 600kg nhưng đột nhiên giá xoài giảm mạnh, không có thương lái đến mua, anh phải bỏ công nhà hái bán rồi chở đến vựa, xoài thuộc loại nhì nhưng chỉ bán được 2.000 đồng/kg.


“Đã là cuối vụ nên cũng không thiệt hại nhiều, tuy nhiên giá xoài lên xuống bấp bênh nên chúng tôi cũng không biết thời điểm nào cho trái là thích hợp, chỉ mong thời gian tới có hợp đồng bao tiêu rõ ràng mới mong ổn định giá xoài” – anh Thành bày tỏ.


MN/Báo Đồng Tháp







About nongdan24g


Nông dân 24giờ mỗi ngày cùng lao động tạo ra sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, những hạt lúa thơm ngon, thực phẩm giàu dinh dưỡng ... và giàu lên nhờ nông nghiệp. Hãy ghé mỗi ngày tại www.nongdan24g.com để có tin nông nghiệp sản xuất mới nhất.






Đăng ký: Bài đăng

Liên kết nuôi chim cút - nongthonviet.com

nongdan24g @ nguontinviet.com


Những năm gần đây, nghề nuôi chim cút phát triển khá mạnh ở Quảng Nam, trong đó Điện Bàn là địa phương có nhiều hộ tham gia nhất. Để nghề này phát triển bền vững, Hội ND đã vận động, hướng dẫn các hộ nuôi chim liên kết, hợp tác với nhau.


Hướng đi đúng


Chủ tịch Hội ND xã Điện Thắng Bắc – ông Nguyễn Thanh Lịch cho hay, từ năm 2005 đến nay, nghề nuôi chim cút ở xã phát triển rộng khắp với trên 1/3 số hộ tham gia (trên 500 hộ). Trong đó, chăn nuôi theo hướng trang trại, gia trại (nuôi trên 2.000 con trở lên/trại) có trên 100 hộ. Với giá trứng cút hiện nay, những hộ nuôi từ 2.000 con chim cút đẻ trứng trở lên có thu nhập trên 20 triệu đồng/tháng.











Người nuôi chọn những con chim cút thịt đạt chuẩn để bán cho thương lái.

Người nuôi chọn những con chim cút thịt đạt chuẩn để bán cho thương lái.



Anh Trần Phước Nam – một ND nuôi cút lâu năm ở xã Điện Thắng Bắc cho biết, gia đình anh đang nuôi trên 10.000 con cút đẻ trứng. “Nếu chăm sóc tốt thì số lượng trứng thu được trên 90% đàn nuôi. Trừ các chi phí công chăm sóc, thức ăn… mỗi tháng gia đình tôi thu trên 35 triệu đồng, bình quân mỗi năm lãi hơn 400 triệu đồng” – anh Phước cho hay. Anh còn xây dựng lò ấp trứng lộn và ấp con giống. Hiện nay anh có 9 lò ấp trứng và trong lò ấp thường xuyên có 70.000 trứng. “Trứng cút lộn là món ăn hấp dẫn, nên người tiêu dùng khá ưa thích, vì thế thị trường tiêu thụ hiện nay khá mạnh” – anh Nam cho hay.



Nếu chăm sóc tốt thì số lượng trứng thu được trên 90% đàn nuôi. Trừ các chi phí công chăm sóc, thức ăn… mỗi tháng gia đình tôi thu trên 35 triệu đồng.


Anh Trần Phước Nam



Liên kết để nâng cao hiệu quả


Ông Trần Phước Hoan- Phó Chủ tịch UBND xã Điện Thắng Bắc thông tin, nghề nuôi chim cút đã giải quyết việc làm thường xuyên cho trên 600 lao động ở địa phương. Nhờ nghề này mà nhiều hộ có thu nhập ổn định. Chính quyền phối hợp với Hội ND xã khuyến khích người dân nuôi chim cút, đặc biệt tạo mọi điều kiện thuận lợi để các hộ nuôi chim cút liên kết với nhau để phát triển nghề bền vững.


“Trên địa bàn xã có một số hộ vừa nuôi chim cút với quy mô lớn, vừa nuôi cút đẻ trứng, cung cấp con giống, thức ăn… cho nhiều hộ rồi bao tiêu luôn sản phẩm. Đây là mô hình liên kết khá hiệu quả, người nuôi hưởng nhiều cái lợi. Khi liên kết, ND sẽ yên tâm về con giống nên không bị dịch bệnh; giá thành, đầu ra của sản phẩm thường xuyên ổn định. Địa phương sẽ khuyến khích các hộ chăn nuôi theo hướng liên kết này” – ông Hoan khẳng định.


Theo ông Nguyễn Như Thịnh – Chủ tịch Hội Làm vườn huyện Điện Bàn, nếu nuôi chim cút với quy mô nhỏ ND sẽ không hưởng được cơ chế khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa, an toàn dịch bệnh (theo Quyết định số 35/2012 của UBND tỉnh Quảng Nam). Huyện có khuyến khích các hộ liên kết để mở rộng chăn nuôi theo quy mô lớn… Ông Thịnh cho biết, 5 năm lại đây, phong trào nuôi chim cút thịt, cút đẻ trứng ở Điện Bàn phát triển nhanh. Riêng các xã Điện Thắng Bắc, Điện Thắng Trung và Điện Thắng Nam đã có hơn 150 hộ nuôi chim cút với quy mô lớn, thu nhập 300 – 400 triệu đồng/hộ/năm, trong đó một số hộ đạt trên 1 tỷ đồng/năm.


Đoàn Hồng/Báo Dân Việt






Nông dân 24giờ mỗi ngày cùng lao động tạo ra sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, những hạt lúa thơm ngon, thực phẩm giàu dinh dưỡng ... và giàu lên nhờ nông nghiệp. Hãy ghé mỗi ngày tại www.nongdan24g.com để có tin nông nghiệp sản xuất mới nhất.





Đăng ký: Bài đăng

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013

Mô hình nuôi cá lóc Nhím bằng thức ăn viên đạt hiệu quả

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

Hiện nay, có 4 loài cá lóc được người dân nuôi phổ biến là: Cá lóc đen (Ophiocephalus striatus), cá lóc bông (Ophiocephalus microphetes), cá lóc môi trề (Ophiocephalus sp.) và cá lóc nhím (được lai giữa cá lóc đen và cá lóc môi trề).



- Cá lóc là loài cá dữ, ăn tạp, sức sống cao, đặc biệt có mang là cơ quan hô hấp phụ nên có khả năng chịu đựng với điều kiện môi trường thiếu oxy như đầm lầy, bùn, ao tù đọng. Thức ăn của cá lóc là các loài cá có kích thước nhỏ, giáp xác, nhuyễn thể, côn trùng, lưỡng thê… Ngoài tự nhiên cá lóc phân bố ở nhiều thủy vực như sông, kênh rạch, ao, mương, đồng ruộng… cá lóc tăng trưởng tốt ở nhiệt độ 25 – 30 độ C và pH 6,3 – 7,5 đây là ưu thế để phát triển các mô hình nuôi thâm canh trong bè hoặc trong mương, ao. Cá lóc được nuôi quanh năm nhưng sống và phát triển tốt với môi trường nước có nồng độ muối nhỏ hơn 1,5‰.


- Từ những đặc điểm trên, năm 2012 Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Bến Tre chọn cá lóc nuôi làm mô hình trình diễn tại hộ anh Nguyễn Văn Dứt, ấp Thanh Bình, xã Thành Trị, huyện Bình Đại để nhân rộng, đây là địa phương nằm trong vùng ngọt hóa của tỉnh. Mô hình được thực hiện với diện tích mặt nước 1.000 m2, độ sâu ao khoảng 1,5 m, ao nuôi được chuẩn bị đúng kỹ thuật theo hướng dẫn của cán bộ khuyến ngư và thả 16.000 con cá lóc nhím có trọng lượng 1.000-1.200 con/kg mua ở trại sản xuất giống thủy sản-Trung tâm giống Nông nghiệp Bến Tre. Cá lóc nuôi cho ăn bằng thức ăn công nghiệp Tilapia feed (Uni-President) dùng cho cá rô phi và cá có vẩy.


- Ngày 20 tháng 12 năm 2012, Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư đã nghiệm thu mô hình, kết quả cá lóc nuôi 4,5 tháng trọng lượng trung bình đạt 500 gam/con, tỷ lệ sống 60%, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR): 1,1 (vượt chỉ tiêu ban đầu FCR: 1,4). Như vậy, tổng sản lượng cá lóc thu hoạch tại thời điểm nghiệm thu đạt 4,8 tấn/1.000 m2, với giá 40.000 đồng/kg, sau khi trừ đi chi phí lãi trên 40 triệu đồng/1.000 m2. Khi hỏi về sự thành công này, anh Nguyễn Văn Dứt vui vẻ chia sẻ: “Để có được hiệu quả cao khi nuôi đối tượng này chúng ta cần phải làm tốt việc chuẩn bị ao, chọn giống, chăm sóc cũng như cách phòng trị bệnh cho cá trong suốt thời gian nuôi, đặc biệt là cách thức phối trộn thức ăn và cách cho cá ăn ở các giai đoạn cá phát triển”. Ngoài ra, anh Dứt còn cho biết thêm, điều quan trọng quyết định sự thành công là việc quản lý thức ăn và phương thức chọn cá lóc giống. Bởi vì, cá lóc là loài cá dữ, sự tranh giành thức ăn trong ao rất mãnh liệt, nếu thiếu thức ăn cá lớn sẽ ăn cá nhỏ. Vì vậy, nên chọn đàn cá lóc cùng ngày tuổi và cùng kích thước là hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, người nuôi cần chọn mua cá lóc giống ở những nơi tin cậy, có nguồn gốc rõ ràng, cá khỏe mạnh, không dị hình, trầy xước và không có triệu chứng bị bệnh.


- Trong quá trình nuôi, tháng đầu cho cá lóc ăn cá phân được xay nhuyễn phối trộn với thức ăn viên chuyên dùng cho cá rô phi và cá có vẩy với tỷ lệ 90% cá phân 10% thức ăn công nghiệp, 3 ngày tăng tỷ lệ thức ăn công nghiệp lên 10%, mỗi ngày cho cá ăn 2 lần lúc 7 giờ và 17 giờ, sau một tháng nuôi chuyển sang cho cá lóc ăn hoàn toàn bằng thức ăn viên chuyên dùng cho đến cuối vụ nuôi, thay nước mỗi ngày khoảng 10%. Để quản lý tốt nguồn thức ăn khi cho cá lóc ăn thì ngoài sàng cho cá lóc ăn bên trên, bên dưới có một lưới mắt nhỏ để hứng thức ăn dư thừa rơi xuống đáy ao, cuối mỗi ngày vớt bỏ một lần, nếu thừa thức ăn thì ngày sau giảm lượng thức ăn cho ăn, ngược lại tăng lượng thức ăn để đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu thức ăn hàng ngày cho cá lóc. Chính việc này giúp người nuôi kiểm soát tốt lượng thức ăn sử dụng hàng ngày trong suốt thời gian nuôi. Bên cạnh đó, nhằm đa dạng hóa mô hình nuôi và đối tượng nuôi thủy sản, đồng thời giảm thiểu ô nhiễm môi trường, dịch bệnh một cách tự nhiên và tận dụng nguồn thức ăn dư thừa còn lại trong ao, anh Dứt đã thả nuôi ghép 10 kg cá rô phi giống sau khi cá lóc thả nuôi được 1 tháng. Với hình thức nuôi này đã giúp anh tăng thêm thu nhập từ cá rô phi khoảng hơn 10 triệu đồng/1.000 m2.


ao nuoi ca loc


- Đây là mô hình nuôi thủy sản hiệu quả và mang tính bền vững, nhiều triển vọng, cần được nhân rộng để người dân biết tham quan học tập kinh nghiệm, từng bước thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của địa phương trong thời gian tới.


Mô hình nuôi cá lóc Nhím bằng thức ăn viên đạt hiệu quả by Sở NNBT.




Đăng ký: Bài đăng

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2013

Nuôi thủy sản theo hướng an toàn sinh học

@ nguontinviet.com

Nhờ thay đổi phương pháp chăm sóc theo hướng an toàn sinh học (ATSH) các loài cá truyền thống như trắm, trôi, chép, mè... đã mang lại hiệu quả cao cho người nuôi, rất thích hợp phát triển tại Hà Nội.

Cũ mà không cũ


Tại Hà Nội, mô hình nuôi trồng thủy sản theo hướng ATSH được triển khai thực hiện ở nhiều huyện (Thạch Thất, Phú Xuyên, Ứng Hòa, Mỹ Đức, Chương Mỹ, Thanh Oai, Thanh Trì...).


Năm 2012, Trung tâm Khuyến nông Hà Nội đã hỗ trợ 100% giống và 30% vật tư gồm thức ăn công nghiệp, chế phẩm sinh học cho các hộ gia đình tham gia thí điểm. Đồng thời, Trung tâm còn phối hợp với Trạm Khuyến nông các huyện thường xuyên cử cán bộ đến hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh cho cá.


Ngoài sử dụng chế phẩm sinh học xử lý nước, cán bộ kỹ thuật còn hướng dẫn nông dân biện pháp phòng trị bệnh tổng hợp bằng thảo mộc sẵn có tại địa phương, như: tỏi, nhọ nồi... Bởi vậy, mặc dù đối tượng cá nuôi không mới nhưng cách làm này giúp thay đổi tập quán sản xuất và nâng cao hiệu quả cho người nông dân.


Hiệu quả cao


Gia đình ông Kiều Hữu Hợp, xóm Trại (Đại Đồng, Thạch Thất) tham gia mô hình thí điểm nuôi cá truyền thống theo hướng ATSH với diện tích 1,6 ha. Ông Hợp cho biết, cơ cấu đàn cá trong ao lấy cá chép V1 làm chính, chiếm 60%, còn lại rô phi chiếm 20%, mè 10%, trôi 10%. Cứ 10 - 15 ngày, nước ao lại được xử lý một lần bằng chế phẩm sinh học. Do đó cá lớn nhanh, tốc độ tăng trọng bình quân đạt 1,7 - 2,2 g/tháng. Vụ thu hoạch cá cuối năm 2012, ông Hợp thu được 165 triệu đồng. "Cũng diện tích này, trước đây phải vất vả lắm gia đình tôi mới thu được 150 triệu đồng" - ông Hợp chia sẻ.


z300-Thuy-san-Viet-Nam2141-


Nuôi thủy sản theo hướng ATSH tại huyện Chương Mỹ - Ảnh: Lại Duy Cường


Anh Kiều Hữu Minh, một hộ thí điểm khác tại xóm Trại cho biết, cá nuôi ATSH có chất lượng, thơm ngon, dễ bán. Chủ yếu lượng cá được thương lái mang đi tiêu thụ trong nội thành Hà Nội. Với phương pháp nuôi mới, vụ cá năm 2012, gia đình anh thu được gần 80 triệu đồng.


Theo tổng kết của Trung tâm Khuyến nông Hà Nội, mô hình nuôi cá truyền thống theo hướng ATSH lấy cá chép V1 làm đối tượng chính cho năng suất cá trên 9 tấn/ha; trong đó cá chép đạt 5,7 tấn, rô phi 2 tấn, trôi 700kg, mè 1 tấn. Mức năng suất này cao hơn cách làm trước đây tại địa phương 2 - 3 lần. Hiệu quả kinh tế đạt gần 100 triệu đồng/ha.


Nuôi trồng thủy sản đang mang lại thu nhập cao hơn cấy lúa, nhất là nuôi theo hướng ATSH đã mở ra cách làm giàu cho nông dân. Tuy nhiên, để nhân rộng mô hình và nâng cao hiệu quả sản xuất, cần tiếp tục hỗ trợ cho nông dân chế phẩm sinh học và biện pháp xử lý nguồn nước. Cùng đó, hỗ trợ vốn cho các hộ dân đầu tư phát triển sản xuất.


Theo thuysanvietnam.com.vn (21/5/2013)





Đăng ký: Bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2013

Mô hình nuôi cá Thát Lát Cườm bằng thức ăn viên

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

Cá thát lát cườm thịt ngon, giá trị kinh tế cao. Những năm gần đây, người nuôi cá ĐBSCL đã chuyển sang dùng thức ăn công nghiệp, hiệu quả cao, vì cùng lúc có thể chủ động nguồn thức ăn, tăng lợi nhuận, năng suất cao, cá bán được giá. Nuôi cá thát lát cườm không quá khó đối với người nuôi cá nước ngọt. Quan trọng nhất là có tâm huyết và nắm vững các biện pháp kỹ thuật cơ bản.


1. Mô hình được nhân rộng

- Tại huyện Vị Thủy (Hậu Giang), năm 2006 chỉ có hơn 60 hộ thả nuôi cá thát lát cườm trên ruộng lúa; nay đã có gần 200 hộ thả nuôi theo mô hình này.


- Hộ ông Nguyễn Văn Đông (thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thủy) nuôi cá nước ngọt trên ruộng lúa từ năm 2000. Năm 2006, nghe nói thát lát cườm có giá, ông nuôi thử khoảng 200 con; thấy hiệu quả, ông bắt đầu thả nuôi trên ruộng lúa. Nuôi trên ruộng lúa cá lớn nhanh, chi phí đầu tư giảm, nhờ tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên (như phiêu sinh vật, cá, tép, ốc nhỏ…). Đầu năm 2009, ông mạnh dạn đầu tư 2 ao nuôi theo hình thức công nghiệp, mỗi ao 500 m2. Thả 5.000 con giống; chi phí giống khoảng 2.500 đồng/con (loại 3 – 5 phân/con). Với giá bán 48.000 – 50.000 đồng/kg, sau khi trừ mọi chi phí ông dự đoán sẽ lãi trên 100 triệu đồng.


- Hộ ông Phạm Quang Tuyến ấp Hưng Hòa, xã Tân Khánh Trung, huyện Lấp Vò (Đồng Tháp), trên diện tích 2 ha với 400.000 con cá giống thả nuôi 10 – 12 tháng bằng thức ăn công nghiệp, ước sản lượng 300 tấn. Với chi phí sản xuất khoảng 40.000 đồng/kg cá thành phẩm và giá thị trường hơn 50.000 đồng/kg, người nuôi lãi hơn 50%.


2. Đầu tư xây dựng

- Theo nhiều người nuôi có kinh nghiệm thì nuôi cá thát lát cườm không khó. Trước tiên chuẩn bị ao nuôi: Ao nuôi cá tốt nhất là gần nguồn sông chính, để dễ cung cấp nước ngọt. Ao cần có bờ chắc chắn. Tùy cỡ ao lớn nhỏ mà đặt 2 – 3 ống bọng để cấp, thoát nước. Diện tích ao nuôi tốt nhất 200 – 500 m2, độ sâu 0,8 – 1,2 m, nhiệt độ nước thích hợp 26 – 300C, độ pH 7 – 8,5, lượng ôxy hòa tan lớn hơn hoặc bằng 3 mg/lít.


- Trước khi nuôi cần phải dọn cỏ bờ, tát cạn nước, vét hết lớp bùn đáy, bón vôi 10 – 15 kg/100 m2, phơi khô đáy ao khoảng 1 tuần, cho nước vào 5 – 7 ngày mới thả cá giống; nước cần phải qua lưới lọc để ngăn cá tạp, cá dữ; dùng rễ dây thuốc cá diệt cá tạp với liều lượng 3 kg/100 m2. Có thể bón lót phân chuồng để tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho cá giống với liều lượng 15 – 20 kg/100 m2. Để cá lớn khỏe, phải có nguồn cá giống sạch bệnh. Mua giống ở cơ sở uy tín; kích thước đồng đều (3 – 5 phân), không bị xây xát. Cá khỏe tập trung thành từng nhóm, núp trong giá thể, không bơi rời rạc.


- Cá giống mua về nên thả vào sáng sớm hoặc chiều mát. Trước khi thả cần ngâm bao đựng cá trong ao 15 – 20 phút để cá không bị sốc do nhiệt độ môi trường và nước ao thay đổi. Trong ao cần đặt một số giá thể cho cá trú và nên thả cá ở những vị trí này; cá mới thả thường tập trung quanh giá thể nên dễ quan sát và theo dõi. Mật độ thả 5 – 10 con/m2, có thể thả nuôi ghép cá sặc rằn, cá hường với mật độ 3 – 5 con/m2.


- Ban đầu cá giống còn nhỏ, nên chọn thức ăn là cá, tép vụn băm nhỏ hoặc cho cá, tép nhỏ còn sống vào ao. Cá mồi phải được rửa sạch, băm nhỏ hoặc có thể xay nhỏ và trộn với chất kết dính 1 – 2% để thức ăn không bị rã. Thức ăn cần vo thành viên, đặt trên sàn để theo dõi, điều chỉnh lượng thức ăn hằng ngày. Cho cá ăn 2 lần/ngày. Do cá hoạt động mạnh vào ban đêm nên buổi sáng chỉ cho ăn 1/3 khẩu phần, buổi chiều cho ăn 2/3 khẩu phần.


Mô hình nuôi thát lát cườm bằng thức ăn viên by Tạp chí thủy sản.




Đăng ký: Bài đăng

Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2013

Rau sạch lép vế trước rau bẩn - nongthonviet.com

nongdan24g @ nguontinviet.com

Đó là nghịch lý khá trớ trêu hiện nay tại Hà Nội khi rau an toàn vẫn bị “đối xử” không khác gì rau bẩn: Rau sạch, rau bẩn lẫn lộn trên các kệ hàng siêu thị, rau sạch bị xếp đống tại các chợ đầu mối, cửa hàng rau an toàn khá “leo lét”…


Rõ ràng, người tiêu dùng có nhu cầu dùng sau sạch, nhưng cách tổ chức kinh doanh, tiêu thụ của những người quản lý ngành rau ở Hà Nội vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu này.

Không khó để tìm thấy một cửa hàng rau sạch ở Hà Nội. Thế nhưng, người tiêu dùng lại chẳng mặn mà với việc mua rau ở cửa hàng rau sạch bởi nghi ngờ chắc gì rau ở đấy đã sạch thật, giá lại cao hơn giá rau ở chợ. Họ không mấy tin tưởng vào rau sạch không phải không có nguyên cớ. Tất cả bắt nguồn từ sự nhập nhằng trong tổ chức kinh doanh, tiêu thụ khiến người trồng rau an toàn (RAT) thì phấp phỏng lo ế, còn người tiêu dùng thì mỏi mắt đi tìm niềm tin vào rau sạch.


Ế như… rau sạch!


Siêu thị Minh Hoa, Ngọc Khánh… là những điểm bán rau sạch hàng đầu tại Hà Nội. Thế nhưng, có mặt ở những địa điểm này vào giờ đi chợ cao điểm mới thấy sự ế ẩm của những sản phẩm rau quả sạch. Vào siêu thị, chị Phan Ái Hoa (phố Thái Thịnh, Hà Nội) tìm thấy những túi rau hẹ, mướp đắng, củ cải… được đóng gói từ trước đó 4-5 ngày. Rau cải, rau ngót… cũng héo rũ trên kệ hàng.


Số lượng rau xanh bán tại đây không nhiều, song chẳng nhiều người chọn mua: “Rau xanh nhìn thấy héo rồi thì chẳng ai còn muốn mua, dù rau có sạch và có nguồn gốc rõ ràng đến đâu!”. Điều tương tự cũng thấy tại siêu thị Ngọc Khánh (phố Đặng Văn Ngữ) khi các kệ rau chỉ lèo tèo vài loại như cải ngọt, cải bó xôi, bí đao… hầu hết đã kém tươi ngon. Khi hỏi nhân viên bán hàng về ngày cắt rau thì câu trả lời nhận được là từ… hôm qua vẫn còn nên hôm nay chưa nhận tiếp rau về bán! Các loại củ quả cũng nằm lăn lóc trên các kệ được đề là rau củ sạch, song không hề thấy có dán nhãn xuất xứ. Có lẽ siêu thị rau vốn dĩ khá quen thuộc với các bà nội trợ sành ăn lâu nay, hiện kinh doanh với chút uy tín còn sót lại trước đây chăng?


Việc kinh doanh RAT của Hà Nội có lẽ chưa bao giờ bi đát như lúc này. Với mục đích hỗ trợ DN, HTX đưa rau củ quả an toàn đến người dân, đầu năm 2012, sàn giao dịch rau quả và thực phẩm an toàn Hà Nội chính thức đi vào hoạt động. Cùng với đó là các điểm, chuỗi cửa hàng bán RAT về tận các tổ dân phố, khu dân cư lần lượt ra đời. Tuy nhiên, đến thời điểm này, toàn thành phố mới chỉ có 80 điểm thuộc sàn giao dịch rau quả đi vào hoạt động. So với nhu cầu không nhỏ về sử dụng rau sạch của người dân, số lượng này vẫn còn quá khiêm tốn. Các HTX rau sạch ngoài một lượng rau nhất định nhập cho siêu thị, cửa hàng, còn lại phải… bán tống bán tháo ra chợ đầu mối với giá rẻ tương đương các loại rau từ nhiều vùng chuyển về.


Chủ nhiệm HTX Đặng Xá (huyện Gia Lâm) Nguyễn Thế Hiệp cho hay, với 9ha diện tích trồng RAT, chỉ một phần rất nhỏ số lượng rau này được thu mua để đưa vào siêu thị. Phần lớn rau của HTX này được đưa về các chợ rau đầu mối, trà trộn với rau “bẩn” một cách đồng hạng. “RAT do nông dân ở đây trồng chỉ luẩn quẩn bán tại huyện Gia Lâm, hầu như chưa sang được nội thành. Quan trọng nhất là bao tiêu sản phẩm cho người trồng rau thì hầu như chúng tôi không có sự giúp đỡ nào, đành tự mày mò đi tiếp thị tại siêu thị, còn lại phải bán đại trà” – ông Hiệp chia sẻ.


Ông Nguyễn Văn Hào, chủ nhiệm HTX rau Tiền Lệ, (huyện Hoài Đức) cũng cho biết, mặc dù đã tham gia sàn giao dịch và thực phẩm an toàn Hà Nội, cũng có một số cá nhân liên hệ để lấy rau về bán nhưng hầu như ông phải từ chối. Lý do là họ lấy số lượng quá ít, chỉ vài chục cân mỗi ngày trong khi phải vận chuyển đến địa điểm yêu cầu quá xa, không đảm bảo đủ chi phí. Rau sạch được trồng theo quy trình đảm bảo an toàn, theo đó vẫn ế ẩm và buộc họ phải mang ra chợ đầu mối tiêu thụ.


Chưa tin dùng rau sạch


Theo Sở Công thương Hà Nội, kết quả hoạt động của các điểm bán rau sạch nội thành đã không như kỳ vọng. Nguyên nhân chính là người dân vẫn chưa thực sự tin tưởng rau được bán tại các điểm này là rau sạch. PGĐ Sở Công thương Hà Nội Nguyễn Văn Đồng cho biết, số lượng RAT tiêu thụ trên địa bàn đã tăng cả về số lượng và chất lượng, nhưng lượng rau tiêu thụ tại các điểm bán RAT vẫn hạn chế.


Ông Đồng nhận định, tỉ lệ người tiêu dùng mua rau tại các chợ xanh, chợ cóc, chợ tạm gần nơi sinh sống vẫn cao, chỉ rất ít người dân tìm mua rau tại siêu thị và các cửa hàng bán RAT. “Để kinh doanh RAT, rất khó có điểm kinh doanh nào đem lại lợi nhuận nếu không được hỗ trợ kinh phí do giá thuê mặt bằng cao” – ông Đồng nhấn mạnh. Trước đây, TCty Thương mại Hà Nội (Hapro) cũng đã xây dựng 23 điểm kinh doanh RAT cố định, nhưng việc mở rộng các địa điểm lưu động rất loay hoay. Mở tại các chợ thì RAT thì lép vế, không cạnh tranh được với rau thường. Vì thế, nhiều điểm bán rau sạch của đơn vị này đã phải đóng cửa.


Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển RAT cung cấp cho người tiêu dùng, Sở Công thương Hà Nội đã đề xuất UBND TP có chính sách hỗ trợ để khuyến khích doanh nghiệp mở rộng mạng lưới tiêu thụ. Cùng với đó, UBND các quận đề xuất địa điểm khả thi phục vụ hoạt động tiêu thụ rau củ quả an toàn. Tuy nhiên, địa điểm, vị trí bán RAT cũng như hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp mở rộng mạng lưới tiêu thụ sẽ khó mang lại kết quả như mong đợi.


Nhiều năm nay, ngành nông nghiệp cũng như công thương Hà Nội đã có những chính sách ưu tiên, hỗ trợ các điểm bán RAT nhưng cứ mở ra rồi lại đóng cửa. Vì vậy, cần sự kết nối giữa người làm ra sản phẩm an toàn với người tiêu dùng, thông qua các hệ thống tiêu thụ. Về lâu dài, theo Bộ NNPTNT, việc thay đổi quy mô trồng RAT mới là mấu chốt để tác động đến các chuỗi phía sau như tiêu thụ, phân phối…. Bởi với quy mô chỉ trung bình 2 sào/hộ trồng RAT hiện nay tại đồng bằng sông Hồng, việc thay đổi cả một quy trình từ sản xuất đến tay người tiêu thụ là bài toán cần không ít thời gian.





Đăng ký: Bài đăng

Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2013

Địch hại trong ao ương cá

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

Ở giai đoạn cá con, khả năng chống chịu với địch hại là rất kém. Tùy thời kỳ sinh trưởng mà có các loại địch hại khác nhau như bọ gạo, bắp cày, nòng nọc, ếch nhái, rắn và cá dữ…


1. Bọ gạo

- Bọ gạo thuộc lớp côn trùng (Insecta), chúng có kích thước nhỏ và hình dạng hơi giống như “hạt gạo” nên gọi là “bọ gạo”.


- Bọ gạo thích bơi lội trong nước, thỉnh thoảng lại ngoi lên mặt nước để thở, chúng có thể di chuyển “bay” từ ao này đến ao khác.


- Ở giai đoạn cá bột và cá hương, bọ gạo hút máu cá làm suy kiệt sức khỏe, có thể dẫn đến cá chết.


- Cách tiêu diệt đích hại:

+ Lợi dụng tập tính ngoi lên mặt nước của bọ gạo theo chu kỳ mà ta dùng dầu hỏa (dầu lửa) hoặc dầu Diezel để tiêu diệt chúng.

+ Chúng ta đổ dầu vào một khung hình chữ nhật nổi trên mặt nước (làm bằng ống nước, bằng tre) rồi kéo di chuyển chậm chạm khắp mặt ao. Lúc này bọ gạo ngoi lên mặt nước tiếp xúc với dầu hỏa sẽ chết.

+ Lưu ý, khi sử dụng dầu hỏa không nên sử dụng vào lúc sáng sớm (lúc cá nổi đầu) hay sử dụng vào lúc chiều tối (làm giảm oxi). Sử dụng vào lúc 9-15h, lúc trời không mưa là tốt nhất.


2. Bắp cày

- Bắp cày thuộc lớp côn trùng là ấu trùng cà niễng, chúng thường sống đáy, thỉnh thoảng lại ngoi lên mặt nước để thở.


- Khi bình thường bắp cày tỏ ra chậm chạm, khi gặp cá con chúng hoạt động rất nhanh.


- Tác hại lớn nhất của bắp cày là ăn thịt cá bột và cá hương, loài có tập tính sống đáy và cả loài sống ở tầng trên.


bap cay


- Biện pháp diệt trừ bắp cày: Dùng vợt để bắt do bắp cày có tập tính sống đáy, ít hoạt động khi không có con mồi.


3. Nòng nọc và ếch nhái

- Nòng nọc và ếch nhái là những địch hại nguy hiểm ở giai đoạn cá con.


- Đặc điểm của nòng nọc là chúng rất tích cực bắt mồi, có cường độ dinh dưỡng mạnh, ăn nhiều cá con nhất là ở giai đoạn cá bột và cá hương nên làm giảm tỷ lệ sống của cá.


nong noc ech


- Biện pháp tiêu diệt nòng nọc, ếch nhái:

+ Nòng nọc thường tập trung ở đầu nguồn nước mới cấp và sinh sản rất nhanh vào đầu mùa mơi. Lợi dụng đặc tính này mà ta có thể theo dõi để vớt trứng.

+ Dùng lưới kéo(có mắt lưới thích hợp) nhẹ nhàng, chỗ có nòng nọc nhiều, tránh làm khuấy động đến cá con trong ao.


4. Rắn nước

- Rắn nước ăn cá con chủ yếu ở giai đoạn cá hương, cá giống và ếch nhái thì rắn nước rất ưa thích.


- Biện pháp tiêu diệt:

+ Phát quang bụi rậm làm cho rắn nước không có nơi ẩn mình

+ Tìm và tiêu diệt chúng, khi thấy tiếng kêu của nháy từ chạy ra ao vì lúc này rắn đang ăn con mồi nên di chuyển rất chậm.


5. Các loại cá dữ

- Cá dữ là vấn đề đặc biệt lưu ý trong quá trình ương nuôi cá con. Các loài cá dữ điển hình ăn cá con nhiều nhất thường là giống cá lóc, cá trê… Chúng thường ăn thịt cá bột, cá hương và cả cá giống. Tùy theo kích thước cá dữ mà chúng ăn thịt cá con mạnh ở những giai đoạn khác nhau.


- Ngoài cá lóc, có những loài cá ăn thịt cá bột như cá rô đồng, cá rồng rồng, chúng ăn thịt cá bột rất mạnh.


- Biệt pháp tiêu diệt:

+ Cắm câu.

+ Câu cá bằng cách kéo mồi chạy trên mặt nước.


6. Chim còng cọc


cong coc

Chim còng cọc là loài ăn cá con rất dữ, chúng có thể ăn hơn 100 con cá mỗi ngày. Tuy nhiên đây là loài chim nằm trong sách đỏ của Việt Nam nên chúng ta đừng tiêu diệt chúng mà hãy dùng các biện pháp xua đuổi nó đi như: Dùng nạn ná thun để bắn xua đuổi; Giăng lưới, còng cọc thấy sẽ không dám xuống (lưới mắt to, then 3); Treo lon trên dây giăng ngang ao, khi thấy còng cọc tới kéo dây, lon kêu sẽ làm chúng hoảng sợ và bay đi.


Địch hại trong ao ương cá by Thủy sản tép bạc.




Đăng ký: Bài đăng

Đời Sống & Sức Khỏe

Nguồn Tin Cập Nhật

Tags

Shrubby St. John's Wort