Tin tức nông nghiệp

Shopping Around

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

Cách phòng hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm Sú và tôm Thẻ

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

Ngày 28 tháng 06 năm 2013, Tổng cục Thủy sản vừa có Công văn 1648/TCTS-NTTS về việc phòng, chống bệnh cho tôm. Trong đó có một số thông tin mà người nuôi tôm và các cơ quan quản lý thủy sản cần quan tâm:


1. Hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính

- Nguyên nhân và điều kiện gây “hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS)”: Tác nhân gây hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm nuôi nước lợ được xác định do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus, vi khuẩn này đã bị nhiễm bởi một loại thực khuẩn (phage) sinh ra độc tố cực mạnh gây hội chứng AHPNS cho tôm nuôi.


- Hội chứng AHPNS xuất hiện trên tôm nuôi ngay từ giai đoạn tôm giống. Một số yếu tố môi trường ao nuôi bất lợi như nhiệt độ, độ mặn, độ pH cao và hàm lượng oxy hòa tan thấp làm cho bệnh AHPNS trở nên trầm trọng hơn.


- Để hạn chế dịch bệnh, người nuôi tôm và các cơ quan quản lý thủy sản cần thực hiện tốt các giải pháp để ngăn ngừa và phòng bệnh.


2. Đối với người nuôi tôm

- Tẩy dọn ao nuôi triệt để, cần có ao lắng, xử lý nước riêng biệt, không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật diệt giáp xác. Chọn tôm giống sạch bệnh, được kiểm dịch, không mang các tác nhân gây bệnh đốm trắng, đầu vàng, MBV, hoại tử gan tụy hoặc có dấu hiệu bất thường ở gan tụy.


- Hạn chế thả ngay tôm PL12/15 vào ao nuôi mà nên ương tôm giống trong diện tích nhỏ khoảng 10 – 15 ngày trước khi thả nuôi trong ao lớn. Chỉ nên thả nuôi tôm thẻ chân trắng ở các vùng nuôi thâm canh và bán thâm canh, không thả nuôi mật độ cao.


- Luôn đảm bảo oxy hòa tan trong các tầng nước ao cao, duy trì độ mặn và nhiệt độ nước không quá cao, các tháng có nhiệt độ cao duy trì nước ao nuôi tôm sâu. Định kỳ diệt khuẩn trong ao nuôi. Sử dụng chế phẩm sinh học có chất lượng trong xử lý môi trường, khống chế lấn áp vi khuẩn Vibrio trong ao nuôi.


- Sử dụng thức ăn thích hợp, không để dư thừa thức ăn trong ao nuôi tôm. Các ao khi bị bệnh phải tẩy trùng triệt để, khoanh vùng, cách ly, không xả nước thải, tôm chết bừa bãi ra ngoài môi trường.


3. Đối với các cơ quan quản lý thủy sản

- Tổng kiểm tra chất lượng các loại chế phẩm sinh học dùng trong sản xuất tôm giống, nuôi tôm đang lưu hành trên thị trường; nghiêm cấm sản xuất kinh doanh các loại chế phẩm không đảm bảo chất lượng; thông tin rộng rãi chất lượng các chế phẩm đến cộng đồng sản xuất giống và nuôi tôm.


- Kiểm soát chặt chẽ, nghiêm túc chất lượng tôm giống, ngoài các tác nhân gây bệnh như: đốm trắng, đầu vàng, MBV… cần kiểm soát chất lượng tôm giống về hoại tử gan tụy. Không cho lưu thông tôm giống có mầm bệnh.


kiem tra tom giong


- Rà soát điều kiện sản xuất các trại tôm giống từ chất lượng tôm bố mẹ, nguồn nước, sử dụng chế phẩm, chất tẩy trùng, quy trình quản lý trại giống… áp dụng quy trình sản xuất đảm bảo tôm giống có chất lượng tốt, không nhiễm virus và vi khuẩn Vibrio. Việc nhập khẩu tôm bố mẹ, đặc biệt là tôm thẻ chân trắng bố mẹ ngoài yêu cầu sạch bệnh, cần đánh giá xuất xứ chất lượng sản xuất đàn bố mẹ từ nơi cung cấp trước khi cho nhập khẩu.


- Thực hiện giám sát dịch bệnh chặt chẽ các vùng nuôi để có các biện pháp xử lý và ngăn chặn kịp thời. Thông tin, đào tạo, tập huấn về nguyên nhân và các giải pháp phòng trị bệnh cho người nuôi tôm.


Cách phòng hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm sú và tôm thẻ by Báo Ấp Bắc (18/07/2013).




Đăng ký: Bài đăng

Mô Hình “Nhà Sạch - Vườn Đẹp”

@ nguontinviet.com



Lưu ý:


(*) Bắt buộc nhập thông tin


Phần nội dung bà con không được nhập quá 4.000 ký tự


Gửi ý kiến là nơi để bạn đọc thảo luận, thắc mắc và chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm với tin bài 2 Lúa đã đăng. 2 Lúa hoan nghênh đón nhận và xuất bản những ý kiến khách quan, có tính xây dựng, tôn trọng cộng đồng. 2 Lúa kiểm duyệt, biên tập các ý kiến của bạn đọc trước khi xuất bản. 2 Lúa có quyền từ chối bất cứ ý kiến, lời bình nào không hợp thuần phong mỹ tục; các ý kiến cực đoan; không tôn trọng người khác. Nội dung viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc sai chính tả sẽ không được xuất bản; nội dung quảng cáo, ngôn ngữ html và đường link (đến những nôi dung không hợp lệ) đều không được xuất bản. Trân trọng cám ơn quý bạn đọc!






Đăng ký: Bài đăng

Thứ Ba, 30 tháng 7, 2013

Cục BVTV chỉ đạo phòng, chống bệnh bạc lá

@ nguontinviet.com


Cục BVTV vừa có công văn số 1602 gửi Sở NN-PTNT các tỉnh, thành phố về việc phòng, chống bệnh bạc lá.


Theo Cục BVTV, trong những năm gần đây, bệnh bạc lá lúa có xu hướng gia tăng, đặc biệt là trong vụ hè thu, vụ mùa tại các tỉnh ven biển phía Bắc. Năm 2012, diện tích lúa bị bệnh bạc lá ở các địa phương tăng từ 35-70% so với những năm trước.


Bệnh có khả năng gây hại cho cây lúa ở tất cả các thời kỳ và các bộ phận của cây lúa, phổ biến nhất là hại bộ lá và lá đòng vào giai đoạn đòng – trỗ - chín sữa, năng suất có thể giảm từ 25-50%, thậm chí là mất trắng.


Hiện nay chưa có thuốc đặc trị bệnh. Giải pháp quan trọng nhất là phòng, chống bệnh bằng cách lựa chọn giống lúa và áp dụng các biện pháp canh tác, kỹ thuật. Cục BVTV đề nghị các địa phương tập trung một số nội dung sau:


1. Đẩy mạnh áp dụng kỹ thuật canh tác lúa cải tiến (SRI), 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm, quản lý dịch hại IPM, tập trung vào các biện pháp gieo cấy thưa, bón phân cân đối, bón tập trung “nặng đầu nhẹ cuối”, không bón thừa, bón muộn…


Đối với những vùng thường xuyên có bệnh cần rà soát, điều chỉnh cơ cấu giống, sử dụng giống có khả năng chống chịu, ít nhiễm bệnh. Bố trí thời vụ hợp lý để giai đoạn lúa đòng – trỗ - chín ít gặp mưa giông lớn.


2. Khi bệnh xuất hiện phải dừng ngay bón phân đạm, không phun các chất kích thích sinh trưởng, phân bón lá và luôn giữ nước trong ruộng. Bệnh đã xuất hiện thì phun thuốc ít hiệu quả, nhưng tại những vùng có nguy cơ cao có thể sử dụng một số thuốc có trong danh mục.


3. Phối hợp với cơ quan truyền thông, tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn người sản xuất các biện pháp chủ động phòng chống. Hạn chế tối đa thuốc BVTV, đảm bảo ATTP.


4. Dự báo chính xác, cảnh báo kịp thời dịch hại. Tăng cường kiểm tra việc buôn bán thuốc BVTV trên địa bàn.


5. Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 485/CT-BNN-BVTV ngày 6/2/2013 của Bộ trưởng Bộ NN-PTNT về việc tăng cường phòng trừ chuột bảo vệ mùa màng. Theo dõi và phòng trừ kịp thời sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, rầy lưng trắng. Hạn chế tối đa việc phun thuốc trừ sâu hóa học giai đoạn lúa đẻ nhánh. Chỉ đạo xuống giống thu đông 2013 tập trung, đồng loạt, né rầy.


Thường xuyên báo cáo kết quả về Cục BVTV để phối hợp xử lý.





Đăng ký: Bài đăng

Xã có trên 500 hộ nuôi cá lóc

@ nguontinviet.com


Ông Nguyễn Văn Kiệt, Chủ tịch UBND xã Giục Tượng, huyện Châu Thành (Kiên Giang), cho biết: Hiện nay toàn xã có hơn 500 hộ thực hiện mô hình nuôi cá lóc theo nhiều dạng như: 2 lúa 1 cá, hoặc nuôi trong mùng lưới và trong ao đem lại hiệu quả bình quân từ 50-100 triệu đồng/năm.



Cá lóc nuôi từ 2-3 vụ/năm, sản lượng cá trong xã xuất bán ra thị trường từ 1.700-2.000 tấn/năm. Giá bán hiện nay dao động từ 38.000-40.000 đồng/kg, tăng 5.000-8.000 đồng/kg so với tháng trước.


Ông Nguyễn Văn Cưng ở ấp Tân Phước, cho biết: Gia đình đang thả nuôi cá lóc trong mùng lưới trên 20.000 con, do nhà gần khu vực biển nên tận dụng nguồn thức ăn phụ phẩm từ cá biển để làm mồi cho cá. Nuôi cá lóc trong vòng 4 tháng cá đạt trọng lượng từ 350-500 gram/con, sau khi trừ chi phí lãi gần 40 triệu đồng/vụ.





Đăng ký: Bài đăng

JICA tài trợ 4,1 tỷ đồng xây dựng thương hiệu nông sản

@ nguontinviet.com


UBND tỉnh Quảng Nam cho biết, Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ 4,1 tỷ đồng để thực hiện dự án “Phát triển kinh tế địa phương nhờ đẩy mạnh khâu chế biến, xây dựng thương hiệu và phân phối sản phẩm nông nghiệp với điểm xuất phát là Trạm dừng nghỉ đường bộ”. Dự án được thực hiện từ tháng 4/2013 đến tháng 3/2016. Các đơn vị triển khai gồm huyện Thăng Bình, Duy Xuyên, Điện Bàn, Tiên Phước và TP Hội An.


Được biết, nằm trong chương trình dự án, JICA sẽ cử chuyên gia Nhật Bản sang Việt Nam để tổ chức các khóa đào tạo kinh doanh về việc bán các sản phẩm rau an toàn, xây dựng chiến lược kinh doanh, hợp tác hỗ trợ trong khâu đặt hàng và bán hàng ở cả Nhật Bản và Việt Nam.


Bên cạnh đó, JICA sẽ tổ chức đào tạo về quảng bá thông tin, trưng bày sản phẩm, quản lý bán hàng tại trạm dừng nghỉ đường bộ cũng như về công nghệ chế biến… Các học viên Việt Nam sẽ được tham dự các hội thảo của các chuyên gia về việc kinh doanh và tình hình mua bán rau an toàn, các sản phẩm của địa phương tại thành phố Minamiboso và tại trạm dừng nghỉ của một nước tiên tiến như Nhật Bản, để từ đó học viên tìm hiểu và áp dụng các kinh nghiệm đó vào thực tế địa phương mình.





Đăng ký: Bài đăng

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

Thông tin về hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS) trên tôm Sú và tôm Thẻ

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

1. Tổng quan

- Theo nhận định của Bộ Nông nghiệp và PTNT, dịch bệnh hoại tử gan tụy trên tôm nước lợ đang diễn biến phức tạp và có nguy cơ lan rộng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đời sống của nông, ngư dân. Bộ trưởng đã chỉ đạo các cơ quan chức năng sớm nghiên cứu, làm rõ các tác nhân gây bệnh.


- Trước diễn biến phức tạp tình hình trên Bộ trưởng yêu cầu Cục Thú y (Bộ NN&PTNT) phải tăng cường công tác quản lý, đánh giá và nắm chắc diễn biến dịch bệnh. Căn cứ vào tình hình dịch bệnh trong thời gian qua và kết quả xét nghiệm mẫu bệnh phẩm của các phòng xét nghiệm trong và ngoài nước, Cục Thú y đã ban hành Hướng dẫn các dấu hiệu nhận biết hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS) ở tôm nuôi.


- Theo Tổng cục Thủy sản – Bộ Nông nghiệp và PTNT, hiện nay, trong tổng diện tích thả nuôi tôm nước lợ, hơn 622.750 ha, đã có hơn 38.381 ha bị thiệt hại. Trong đó, chủ yếu là tôm sú với khoảng 35.823 ha, phần lớn diện tích nuôi tôm bị bệnh là các vùng nuôi tôm thâm canh. Trong đó, Trà Vinh là tỉnh bị thiệt hại nặng nề nhất, chiếm gần 10.000 ha, Cà Mau gần 9.000 ha, Sóc Trăng trên 7.000 ha, và Bạc Liêu khoảng 7.000 ha. Hiện tại, tình hình dịch bệnh tại Trà Vinh đã tạm ổn, riêng Sóc Trăng, Bạc Liêu dịch bệnh vẫn có xu hướng gia tăng.


2. Dấu hiệu nhận biết tôm nhiễm bệnh

- Loài nhiễm bệnh: Tôm sú (Penaeus monodon) và Tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei).


- Giai đoạn nhiễm bệnh: Trong suốt quá trình nuôi, tập trung nhiều ở giai đoạn từ 10 đến 45 ngày sau khi thả nuôi.


- Triệu chứng lâm sàng: Ở giai đoạn đầu, triệu chứng của bệnh chưa rõ ràng. Tôm chậm lớn, lờ đờ, bỏ ăn, tấp mé và chết ở đáy ao/đầm nuôi. Ở giai đoạn tiếp theo, tôm bệnh có hiện tượng vỏ mềm, màu sắc cơ thể biến đổi, gan tụy mềm nhũn, sưng to hoặc bị teo lại.


- Dấu hiệu bệnh tích: Tổ chức gan tụy thoái hóa tiến triển cấp tính. Thiếu hoạt động phân bào đẳng nhiễm trong tế bào có nguồn gốc từ mô phôi (tế bào E: Embyonalzellen). Các tế bào trung tâm của tổ chức gan tụy (tế bào tiết B: Basenzellen, tế bào xơ F: Fibrillenzellen, tế bào dự trữ R: Restzenllen) có sự biến đổi cấu trúc và rối loạn chức năng. Các tế bào của tổ chức gan tụy có nhân lớn bất thường và có hiện tượng bong tróc tế bào biểu mô ống lượn và bị viêm nhẹ. Ở giai đoạn cuối của hội chứng hoại từ gan tụy cấp tính có sự tập hợp của tế bào máu ở giữa ống gan tụy và nhiễm khuẩn thứ cấp.


3. Biện pháp phòng bệnh

Có thể áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp đối với bệnh hoại tử gan tụy trên tôm như sau:

a) Đối với trại sản xuất tôm giống:

- Chọn đàn tôm mẹ sạch bệnh để ngăn cản quá trình lây nhiễm bệnh từ tôm mẹ sang tôm con.


- Không nên nhốt chung tôm mẹ từ các nguồn khác nhau vào một dụng cụ để tránh sự lây lan mầm bệnh từ con này sang con khác. Nước và dụng cụ cần được khử trùng kỹ trước khi dùng, không nên dùng chung dụng cụ giữa các bể ấp. Không nên ương ấp mật độ quá dày.


- Rửa nauplius (ấu trùng tôm), hay rửa trứng bằng Formol 100 – 200ppm trong 30 giây đến 1 phút hoặc Iodine 1 – 2ppm trong 1 – 2 phút.


- Nguồn nước nên được sát trùng bằng các phương pháp khác nhau như: phương pháp cơ học (lọc), phương pháp hóa học (xử lý bằng thuốc sát trùng), phương pháp lí học (sát trùng bằng đèn cực tím), phương pháp sinh học, sinh thái để tiêu diệt và kìm hãm tác nhân gây bệnh.


b) Đối với nuôi tôm thịt (tôm thương phẩm):

- Áp dụng biện pháp sốc Formol 100 – 200ppm, trong 30 giây đến 1 phút, để lựa chọn một đàn giống khỏe, không nhiễm bệnh, hay loại bỏ bớt những con mang mầm bệnh, trước khi thả giống.


- Tẩy ao cẩn thận trước một chu kỳ nuôi: Vét hết chất thải của đợt sản xuất trước, phơi nắng đáy ao (nếu có thể), sát trùng đáy ao bằng vôi và hóa chất để tiêu diệt mầm bệnh tồn tại ở đáy ao. Không nên nuôi tôm với mật độ quá cao.


- Sử dụng thức ăn không mang mầm bệnh: Các loại thức ăn tổng hợp và tự chế biến cần được bảo quản tốt, tránh mốc, vón và nhiễm khuẩn. Bởi nấm mốc trong thức ăn tổng hợp hay trong nguyên liệu để sản xuất thức ăn tổng hợp có thể sinh ra trong thức ăn viên một loại độc tố (Aflatoxin) gây hoại tử gan nghiêm trọng ở động vật thủy sản nuôi nói chung và tôm nuôi nói riêng.


- Có thể làm tăng hệ miễn dịch tự nhiên của tôm bằng cách quản lý môi trường ao nuôi thích hợp và ổn định; đồng Glucan và hạnthời bổ sung một số sản phẩm như vitamin C, A, E, và chế dùng các hóa chất, kháng sinh.


- Ngăn chặn sự có mặt của các nhân tố gây độc cho gan tụy tôm như các ion kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật…có trong nước của bể ấp và ao nuôi. Có thể dùng EDTA để tạo phức kết tủa và tách các ion kim loại nặng ra khỏi nguồn nước cần sử dụng.


- Khi bệnh đã xảy ra, trước khi xả bỏ tôm bệnh, cần dùng thuốc diệt khuẩn (Chlorine, formol) để sát trùng nước.


Thông tin về hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS) trên tôm sú và tôm thẻ by Khuyến nông VN.




Đăng ký: Bài đăng

Hiệu Quả Mô Hình Trồng Nho Trôm

@ nguontinviet.com



Lưu ý:


(*) Bắt buộc nhập thông tin


Phần nội dung bà con không được nhập quá 4.000 ký tự


Gửi ý kiến là nơi để bạn đọc thảo luận, thắc mắc và chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm với tin bài 2 Lúa đã đăng. 2 Lúa hoan nghênh đón nhận và xuất bản những ý kiến khách quan, có tính xây dựng, tôn trọng cộng đồng. 2 Lúa kiểm duyệt, biên tập các ý kiến của bạn đọc trước khi xuất bản. 2 Lúa có quyền từ chối bất cứ ý kiến, lời bình nào không hợp thuần phong mỹ tục; các ý kiến cực đoan; không tôn trọng người khác. Nội dung viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc sai chính tả sẽ không được xuất bản; nội dung quảng cáo, ngôn ngữ html và đường link (đến những nôi dung không hợp lệ) đều không được xuất bản. Trân trọng cám ơn quý bạn đọc!






Đăng ký: Bài đăng

Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2013

Atisô Đà Lạt mới xuống giống chết hàng loạt

@ nguontinviet.com


Ngày 28/7, UBND phường 12 (Đà Lạt, Lâm Đồng) cho biết hiện có hàng loạt diện tích atisô vừa xuống giống trên địa bàn phường bị chết vì mưa dầm trong nhiều ngày qua.


Những hộ nông dân phường 12 cho biết, mưa dầm nhiều ngày khiến cho bộ rễ non của atisô bị thối nhũn dẫn đến chết cây. Phường 12 là nơi có diện tích atisô chiếm cao nhất của TP Đà Lạt – khoảng 50ha trong 60ha. Sau vụ atisô được giá (có lúc lên đến trên 500.000 đồng/kg bông) từ tháng 5 đến nay, nhiều hộ nông dân phường 12 đã mở rộng diện tích loại cây trồng này.


Hiện tại, do nguồn cây giống khan hiếm nên sau khi vườn cây bị chết, nhiều nông dân không còn cây giống để trồng thay thế.





Đăng ký: Bài đăng

Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2013

Bảo Quản Và Chế Biến Nhãn

@ nguontinviet.com



Lưu ý:


(*) Bắt buộc nhập thông tin


Phần nội dung bà con không được nhập quá 4.000 ký tự


Gửi ý kiến là nơi để bạn đọc thảo luận, thắc mắc và chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm với tin bài 2 Lúa đã đăng. 2 Lúa hoan nghênh đón nhận và xuất bản những ý kiến khách quan, có tính xây dựng, tôn trọng cộng đồng. 2 Lúa kiểm duyệt, biên tập các ý kiến của bạn đọc trước khi xuất bản. 2 Lúa có quyền từ chối bất cứ ý kiến, lời bình nào không hợp thuần phong mỹ tục; các ý kiến cực đoan; không tôn trọng người khác. Nội dung viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc sai chính tả sẽ không được xuất bản; nội dung quảng cáo, ngôn ngữ html và đường link (đến những nôi dung không hợp lệ) đều không được xuất bản. Trân trọng cám ơn quý bạn đọc!






Đăng ký: Bài đăng

Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

Củng cố hệ thống khuyến nông

@ nguontinviet.com


Để từng bước chuẩn hóa và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống khuyến nông, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, vừa qua, UBND tỉnh Hà Giang đã ban hành Kế hoạch củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống khuyến nông của tỉnh.




Một buổi tập huấn khuyến nông ở Hà Giang


Theo đó, mục tiêu đến năm 2014 Hà Giang phấn đấu đạt các mục tiêu cơ bản về hệ thống khuyến nông như: Củng cố, kiện toàn hệ thống khuyến nông từ tỉnh đến cấp huyện đảm bảo đủ về số lượng, đúng chuyên môn và cân đối giữa các chuyên ngành; Rà soát nâng cao trình độ chuyên môn cho toàn hệ thống cán bộ khuyến nông các cấp, đảm bảo cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đề ra;


Hoàn thiện hệ thống quản lý, đảm bảo thống nhất từ tỉnh đến huyện xã và các thôn bản; đổi mới công tác tuyên truyền trong hoạt động khuyến nông; thí điểm một số hoạt động dịch vụ về khuyến nông ở những địa phương có điều kiện, tạo tiền đề đổi mới cơ chế hoạt động khuyến nông từ sự nghiệp sang hình thức dịch vụ;


Tạo phong trào toàn dân làm khuyến nông, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia các hoạt động khuyến nông dưới mọi hình thức để đẩy mạnh công tác xã hội hóa khuyến nông...





Đăng ký: Bài đăng

Tạm ứng 16 tỷ đồng hỗ trợ trồng dừa

@ nguontinviet.com


Bà Sơn Thị Ánh Hồng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh ký văn bản đồng ý tạm ứng kinh phí cho các huyện, thành phố với số tiền 16,2 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách tỉnh năm 2013 để thực hiện chính sách hỗ trợ phân bón cho người trồng dừa đang cho trái.


Trước đó tỉnh đã phê duyệt hỗ trợ diện tích trồng dừa 13.264 ha, tương đương với số tiền hỗ trợ 19.896 triệu đồng; tuy nhiên, sau khi rà soát, thống kê lại diện tích dừa trồng tập trung là 13.876 ha, với số tiền hỗ trợ 20.814 triệu đồng; diện tích dừa trồng phân tán là 2.040.864 cây, số tiền hỗ trợ 15.306 triệu đồng. Do đó, UBND tỉnh tiếp tục tạm ứng với kinh phí tăng thêm là 16,2 tỷ đồng đối với diện tích và số lượng dừa phát sinh.





Đăng ký: Bài đăng

Tăng tỷ lệ phí bảo hiểm tôm, cá

@ nguontinviet.com


Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1725/QĐ-BTC về sửa đổi, bổ sung quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm tôm, cá ban hành kèm theo Quyết định số 1042 ngày 8/5/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.


Theo đó, tỷ lệ phí bảo hiểm áp dụng cho tất cả các hình thức nuôi thâm canh, bán thâm canh, quảng canh cải tiến và được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên số tiền bảo hiểm. Cụ thể như sau: tỷ lệ phí bảo hiểm tôm là 13,73%; tỷ lệ phí bảo hiểm cá tra là 6,83%. Như vậy, nếu so với những quy định về tỷ lệ phí bảo hiểm tôm, cá trong Quyết định 3035/QĐ-BTC (tính theo từng hình thức nuôi), thì các tỷ lệ mới đều cao hơn.


Cụ thể, trong Quyết định 3025: tỷ lệ phí bảo hiểm tôm nuôi thâm canh là 7,42%; tôm nuôi bán thâm canh là 8,02%; tôm nuôi quảng canh là 9,72%; cá nuôi thâm canh là 3,82%; cá nuôi bán thâm canh là 4,08%; cá nuôi quảng canh là 4,82%.





Đăng ký: Bài đăng

Ống Lúa Lai Chất Lượng Cao Nghi Hương 2308

@ nguontinviet.com



KỸ THUẬT TRỒNG


ky-thuat-trong-va-cham-soc-cay-cao-su-ky-thuat-trong


1. Điều kiện sinh thái để trồng cây cao su


Đất canh tác có tầng sâu trên 1,5m không bị úng thủy, không đụng đá kết von, đá bàn, cao trình dưới 600m so mực nước biển.


Khí hậu có nhiệt độ trung bình hàng năm từ 25-28oC, lượng mưa bình quân hằng năm 1500mm phân bố mưa từ 5-6 tháng trong năm.


2. Chuẩn bị đất


Công tác chuẩn bị đất: phải hoàn chỉnh trước vụ trồng mới trên 60 ngày, cho rà gốc, gom dọn sạch rễ, chồi sau khi cày đất.


Đất chuẩn bị trồng cần phải đảm bảo yêu cầu bảo vệ đất màu, chống úng, chống xói mòn, có mương thoát nước và xây dựng hệ thống đường đi.


3. Thiết kế hàng trồng


Đất dốc <50 trồng thẳng hàng theo hướng Bắc Nam


Đất dốc từ 50 - 200 trồng theo đường đồng mức chủ đạo


4. Mật độ và khoảng cách trồng


Đất đỏ: 7m x 3m tương ứng với 476 cây/ha


Đất xám: 6m x 3m tương ứng với 555 cây/ha


5. Phương pháp trồng


Quy cách hố trồng: 60x60x60 cm (Khoan máy hoặc đào bằng tay).


Sau khi đào hố để ải 15 ngày, lấp hố bằng lớp đất mặt khoảng ½ hố, bón lót 2kg phân hữu cơ vi sinh (hay 1-1,5kg phân hữu cơ vi sinh Komix) + 300 gr lân + lớp đất mặt lấp đầy hố, cắm cọc giữa hố để đánh dấu điểm trồng sau này.


a. Trồng cây bầu


Lấy cuốc móc đất lấp trong hố lên, có độ sâu bằng chiều cao bầu cây con; dùng dao bén cắt bỏ đáy bầu 1 lớp khoảng 1-2 cm; cắt bỏ phần rễ cọc nhú ra khỏi bầu, hoặc bị xoắn trong đáy bầu, sau đó đặt bầu xuống hố, mắt ghép quay về hướng gió chính, mí dưới mắt ghép ngang với mặt đất, dùng dao bén rọc túi bầu Pe từ phía dưới lên cuốn nhẹ từ từ túi bầu, cuốn lên tới đâu lấp đất tới đó, ém giữ cho bầu đất không bị vỡ, cuối cùng cho lấp đất quanh gốc bầu phủ kín cổ rễ, nhưng không lấp mắt ghép.


b. Trồng cây stum trần


Dùng cuốc móc đất lấp hố lên, có độ sâu dài hơn rễ đuôi chuột cây stump; đặt tum thẳng xuống hố, mắt ghép quay về hướng gió chính lấp hố lại từng lớp đất, lấp tới đâu dậm kỹ tới đó để đất lắp chắt gốc tum; sau cùng lấp đất mặt cho cho đến ngang mí dưới mắt ghép, không để lồi cổ rễ lên mặt đất.


c. Trồng dặm: Phải trồng dặm và định hình vườn cây từ năm thứ nhất


20 ngày sau trồng phải kiểm tra, trồng dặm lại những cây chết hoặc mắt ghép chết.


Để đảm bảo vườn cây đồng đều, phải chuẩn bị 15% đối với vườn cây trồng bầu và 25 % vườn cây trồng trần trồng dặm, so với cây trồng mới.


Có thể trồng dặm bằng tum trần, bầu cắt ngọn, bầu 1-2 tầng lá hoặc Stump bầu có hai tầng lá ổn định.


Trồng dặm bằng cây con đúng giống đã trồng trên vườn cây.


6. Thời vụ trồng


Trồng mới khi thời tiết thuận lợi, đất có đủ độ ẩm


Miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên


+ Trồng tum trần từ 1/6 -> 15/7 (Dương lịch)


+ Trồng bầu từ 15/5 -> 31/8 (Dương lịch)


Trồng dặm cũng được thực hiện theo thời vụ trên





Đăng ký: Bài đăng

Đề Phòng Bệnh Đốm Lá Lớn Và Đốm Vằn Trên Cây Bắp

@ nguontinviet.com



Lưu ý:


(*) Bắt buộc nhập thông tin


Phần nội dung bà con không được nhập quá 4.000 ký tự


Gửi ý kiến là nơi để bạn đọc thảo luận, thắc mắc và chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm với tin bài 2 Lúa đã đăng. 2 Lúa hoan nghênh đón nhận và xuất bản những ý kiến khách quan, có tính xây dựng, tôn trọng cộng đồng. 2 Lúa kiểm duyệt, biên tập các ý kiến của bạn đọc trước khi xuất bản. 2 Lúa có quyền từ chối bất cứ ý kiến, lời bình nào không hợp thuần phong mỹ tục; các ý kiến cực đoan; không tôn trọng người khác. Nội dung viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc sai chính tả sẽ không được xuất bản; nội dung quảng cáo, ngôn ngữ html và đường link (đến những nôi dung không hợp lệ) đều không được xuất bản. Trân trọng cám ơn quý bạn đọc!






Đăng ký: Bài đăng

Người dân HN đổ xô bắt đỉa bán cho thương lái, giá 600.000 đồng/kg - nongthonviet.com

nongdan24g @ nguontinviet.com




Gần đây, rất nhiều người đổ xô đến các khu đồng ruộng ao ở Cổ Nhuế (Từ Liêm, Hà Nội) bắt đỉa để bán cho thương lái với giá 600.000 đồng/kg.


Gần một tuần nay trên địa bàn huyện Từ Liêm (Hà Nội) có hàng chục người đến từ các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và dân lao động tứ xứ quanh vùng đổ xô ra các khu đồng ruộng, ao tù bỏ hoang trên địa bàn xã Cổ Nhuế (huyện Từ Liêm) để bắt đỉa.


Theo lời người dân ở khu vực cầu Noi (thôn Viên, xã Cổ Nhuế), hầu hết người bắt đỉa đều là người lạ từ địa phương khác chứ không hề có người dân trong vùng.











Nhiều người đổ xô đi bắt đỉa để bán cho các thương lái thu mua.
Nhiều người đổ xô đi bắt đỉa để bán cho các thương lái thu mua.

Chiều 24/7, ông Nguyễn Tiến Hùng – Phó chủ tịch Uỷ ban Nhân dân xã Cổ Nhuế – cho biết khu vực người dân tập trung bắt đỉa rộng khoảng 20ha trên địa bàn thôn Viên. Đây là khu vực có một số hộ dân trồng khoai nước, rau muống, còn lại là khu vực bỏ hoang hóa lâu, ngập nước do đó có nhiều đỉa sinh sống.


Trước đó, một nhóm thanh niên đang hành nghề tại khu vực cầu Noi cho biết hằng ngày họ chạy xe máy từ tỉnh Vĩnh Phúc tới tìm bắt đỉa rồi cuối ngày về nhập cho một đại lý thu gom tại thành phố Phúc Yên (Vĩnh Phúc). “Một kg đỉa tươi này được bán cho thương lái với giá 600.000 đồng, ngày cao điểm cũng bắt được hơn một kg, hưng có lúc cũng chỉ được 1-2 lạng” – một người trong nhóm nói.


Báo TT







About nongdan24g


Nông dân 24giờ mỗi ngày cùng lao động tạo ra sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, những hạt lúa thơm ngon, thực phẩm giàu dinh dưỡng ... và giàu lên nhờ nông nghiệp. Hãy ghé mỗi ngày tại www.nongdan24g.com để có tin nông nghiệp sản xuất mới nhất.






Đăng ký: Bài đăng

Đất khó đã nở hoa - nongthonviet.com

nongdan24g @ nguontinviet.com


Nhờ mô hình nuôi trồng kết hợp, ông Đoàn Quang Luật (trú thôn Thủy Ba Tây, xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị) có thu nhập gần 500 triệu đồng/năm.


Ông Luật vì nhà nghèo đành bỏ dở việc học hành để tham gia quân ngũ. Ra quân, ông xin về làm công nhân thủy sản của Phòng Nông nghiệp huyện Vĩnh Linh. Đến năm 2003, vì lý do sức khỏe, ông xin nghỉ hưu sớm. “Hồi đó kinh tế khó khăn, con cái còn nhỏ, vợ thì hay đau yếu nên một mình tôi xoay chạy đủ đường mà không đủ ăn”– ông Luật nhớ lại. Không đành lòng nhìn vợ con thiếu ăn từng bữa, ông ngày đêm suy nghĩ tìm hướng thoát nghèo.
Ông Đoàn Quang Luật cho cá ăn.

Ông Đoàn Quang Luật cho cá ăn.



Nhận thấy ở địa phương và các vùng lân cận, nhu cầu mua cá giống cao mà chưa có nơi cung cấp, cuối năm 2003, ông đào 8 hồ cá rộng 5.000m2 mặt nước, vay mượn ngân hàng cùng bà con lối xóm mua cá về thả. Nhờ nắm vững kỹ thuật và kinh nghiệm sẵn có từ những ngày còn làm công nhân thủy sản, cá giống ông nuôi phát triển nhanh, chất lượng tốt nên ngay vụ cá đầu tiên ông đã có thu nhập khá. Ngoài trả hết nợ nần, năm 2004, ông còn đầu tư mở rộng quy mô lên 16 hồ, với diện tích 10.000m2 mặt nước. Vậy nhưng, sau cơn đại hồng thủy năm 2005, ông trắng tay.


Không nản lòng, năm 2006, ông tiếp tục vay mượn, nuôi cá giống. Cũng năm đó, khi có dự án trồng cao su của tỉnh, ông tiếp tục khai hoang, trồng 8ha cao su tiểu điền. Miệt mài làm lụng, đến nay, ông đã có 8ha cao su, trong đó 5ha đã cho khai thác với thu nhập bình quân trên 300 triệu đồng/năm. 16 hồ cá giống các loại cho ông thu nhập 150 triệu đồng/năm. Ngoài ra, ông còn trồng 1,2 mẫu lúa 2 vụ, cho thu nhập 15 triệu đồng/năm; 2 sào tiêu với hơn 100 gốc tiêu cho ông thu lãi hơn 30 triệu đồng/năm; 1 mẫu sắn cho ông thu nhập trên 8 triệu đồng/năm. Nhẩm tính, trong năm 2012, ông bỏ túi gần 500 triệu đồng sau khi trừ mọi chi phí.


Hiện, trang trại của ông giải quyết việc làm thường xuyên cho 3 lao động tại địa phương với thu nhập ổn định 3 triệu đồng/người/tháng. Cũng nhờ có thu nhập cao từ trang trại, vợ chồng ông có điều kiện nuôi 3 con ăn học thành tài.


Bà con muốn học hỏi kinh nghiệm làm ăn liên hệ với ông Luật theo số điện thoại: 0985398694.



Ngọc Vũ/Báo Dân Việt






Nông dân 24giờ mỗi ngày cùng lao động tạo ra sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, những hạt lúa thơm ngon, thực phẩm giàu dinh dưỡng ... và giàu lên nhờ nông nghiệp. Hãy ghé mỗi ngày tại www.nongdan24g.com để có tin nông nghiệp sản xuất mới nhất.





Đăng ký: Bài đăng

Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

Bí quyết làm giàu của nông dân Ðà Lạt

@ nguontinviet.com


bi_quyet_lam_giau_cua_ND_Da_Lat


Ông Ðinh Xuân Toản chăm sóc vườn cà chua




Từ những nhà nông canh tác đại trà và không có kế hoạch sản xuất, bị ép giá hoặc phải chấp nhận lỗ nay họ sắm được xe chở hàng, ổn định kinh tế, mở rộng trang trại... Bí quyết thành công của những nông dân đó là ngoài kỹ thuật trồng trọt, luôn cập nhật những kiến thức mới còn có sự am hiểu nhu cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng, nhất là phải có đầu ra ổn định.

Bán hàng cho nhà phân phối lớn không dễ

Trong thời kỳ hiện nay, việc làm nông không đơn thuần là làm theo cảm tính và kinh nghiệm sẵn có của nông dân. Người tiêu dùng, nhất là các nhà phân phối bây giờ cũng trở nên "khó tính" và đa dạng hơn rất nhiều, ngoài những yêu cầu cao về mẫu mã sản phẩm, chất lượng và quy cách sản phẩm, đặc biệt là các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm cũng được đòi hỏi một cách khắt khe.


Xuất thân là một giáo viên, bà Thu Cúc ngụ tại Suối Vàng (Ðà Lạt) bắt đầu làm nông sau khi về hưu năm 2007. Thời điểm đó, bà hầu như không có kinh nghiệm về nông nghiệp mà phải tự học từng bước thông qua các tài liệu và sự tư vấn của bạn bè. Bà Cúc cho biết: "Ban đầu tôi tự học hỏi mọi kỹ thuật nhưng không biết sản phẩm mình làm ra có thật sự chất lượng hay không vì thương lái thu mua chỉ quan tâm sản phẩm làm ra đẹp hay xấu để ra giá mua và thường xuyên bị ép giá. Muốn bán được cho những nhà cung cấp lớn khó lắm vì họ áp dụng rất nhiều tiêu chuẩn. Không chỉ kiểm tra chất lượng, vệ sinh của từng đợt hàng mà họ còn kiểm tra cả quá trình canh tác của nông dân. Ngay cả việc thu hoạch theo cách nào hay quy cách giao hàng cũng phải bảo đảm trong khi bản thân tôi lại không biết áp dụng tiêu chuẩn nào để vừa ý khách hàng.


Trước khi các tiêu chuẩn về Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) ra đời năm 2008, nước ta đã có rất nhiều chương trình sản xuất nông sản an toàn đối với rau, quả, và cây dùng làm thức uống. Nhiều nơi các quy định đó đã xây dựng thành quy trình phổ biến cho nông dân thực hiện và mang lại các kết quả đáng khích lệ. Tại Ðà Lạt, năm 2005, Tổ chức Thị trường quốc tế đã tổ chức chứng nhận GAP cho một số cơ sở sản xuất rau và cà-phê. Năm 2006, Công ty Metro Cash & Carry Việt Nam cũng bắt đầu tổ chức tập huấn thực hành nông nghiệp theo tiêu chuẩn Global GAP để tạo nguồn rau quả sạch phân phối ra thị trường. Ông Ðinh Xuân Toản, nông dân tại xã Ðạ Ròn, huyện Ðơn Dương, tỉnh Lâm Ðồng cho biết: "Ban đầu, chúng tôi thấy khá bất tiện vì phải học hỏi kỹ thuật chăm sóc mới bằng cách như cách ly, cách sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, ghi nhật ký... Việc ghi chép nhật ký tưởng như phức tạp nhưng lại có hiệu quả, trước đây chúng tôi chỉ nhớ nhẩm nên thường xảy ra nhầm lẫn, việc ghi chép cũng giúp chúng tôi rút được kinh nghiệm từ các vụ mùa trước như cách sử dụng phân bón, các loại sâu bệnh có thể gặp phải... giúp chúng tôi chủ động hơn trong các vụ sau và đáp ứng được nhu cầu khách hàng".


Làm giàu từ nông nghiệp không khó


Nắm được nhu cầu thị trường ngày càng quan tâm tới các sản phẩm an toàn và định hướng về nhu cầu thị trường tốt, nông dân bắt đầu từng bước đi vào sản xuất có kế hoạch theo đơn đặt hàng từ doanh nghiệp. Bà Cúc chia sẻ với chúng tôi: "Tôi nhận thấy thị trường rau mùi khá tiềm năng mà chưa nhà vườn nào đầu tư cho nên tôi bắt đầu chuyên canh những loại rau mùi theo đơn đặt hàng. Rau mùi tùy theo loại, có loại đến ba hoặc năm năm mới phải thay một lần nên vốn đầu tư thấp mà giá bán các loại rau này rất cao". Hiện nay trang trại của bà Cúc trồng các loại rau mùi như ngò, húng, quế tây... trên diện tích hơn 6.000 m2 và một diện tích tương đương dành để trồng các loại cây trồng khác cho thu nhập hơn một tỷ đồng mỗi năm.


Bên cạnh sự am hiểu thị trường, các nhà nông chuyên nghiệp còn áp dụng kỹ thuật canh tác và giống cây trồng mới cho năng suất cao dưới sự hỗ trợ của đội ngũ kỹ sư nông nghiệp. Ông Toản, người trồng giống cà chua theo phương pháp bán thủy canh cho biết, trung bình mỗi cây cho khoảng từ 7 đến 8 kg, giống cà tím mới ông đang canh tác cũng cho năng suất cao từ 4 đến 5 tấn mỗi ngày vào chính vụ cao hơn giống thường từ 1,5 tấn đến 2 tấn trên cùng diện tích. Ðặc biệt, canh tác theo tiêu chuẩn mới giúp nhà nông giảm thiểu chi phí vật tư đồng thời kiểm soát được dịch bệnh tốt hơn.


Cái lợi lớn nhất từ những thay đổi này là giúp các nhà nông có được sự tin tưởng từ các công ty thu mua lớn tạo đầu ra ổn định. Ông Toản cho biết thêm, mỗi ngày ông đáp ứng đơn hàng cho Công ty Metro từ 1 đến 2 triệu đồng dịp chính vụ có thể lên đến 15 triệu đồng mỗi ngày, lợi nhuận riêng với đối tác này khoảng 450 triệu đồng mỗi năm. Ngoài ra, 20 chủ trang trại khác chung nhóm sản xuất với ông Toản cũng rất tự hào về thành công của mình khi làm việc với đối tác này.


Ngoài việc phối hợp cùng các chuyên gia nông nghiệp Hà Lan đào tạo và hướng dẫn nông dân kỹ thuật trồng giống mới, cải tạo năng suất, chất lượng và hỗ trợ đầu ra, công ty Metro còn phối hợp với nông dân lập kế hoạch sản xuất theo năm nhằm tăng cường hiệu quả sản xuất. "Từ khi hợp tác với Metro, tôi đã học hỏi thêm cách sử dụng máy tính, email và nhận đơn hàng qua in-tơ-nét. Nhờ sản xuất và tiêu thụ ổn định tôi có thể lo cho cả bốn đứa con được đi học. Ðứa lớn nhất đang học đại học trên thành phố", ông Toản chia sẻ.


Sự bắt tay giữa nhà nông, nhà khoa học và doanh nghiệp đã tạo ra hiệu quả cao trong việc phát triển kinh tế. Cách làm nông hiện đại của những nông dân chuyên nghiệp này thể hiện một định hướng phát triển bền vững phù hợp với xu thế chung của thị trường. "Cái cần là phải có sự yêu nghề, không ngừng học hỏi kỹ thuật canh tác hiện đại và tìm được đối tác có uy tín thì làm giàu từ nghề nông không khó", bà Cúc chia sẻ bí mật làm giàu của mình.


Theo Nhân dân điện tử





Đăng ký: Bài đăng

Nuôi tôm ở Cà Mau: Từ quảng canh cải tiến đến phát triển bền vững

@ nguontinviet.com

Được nuôi với diện tích lớn từ năm 2010 (1.030 ha), đến năm 2012 (22.000 ha) mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến (QCCT) đã trở thành hình thức nuôi chính, góp phần tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Cà Mau.

Nhiều ưu điểm


Năm 2012, toàn tỉnh Cà Mau có trên 266.735 ha nuôi tôm; trong đó, nuôi tôm QCCT khoảng 22.000 ha, năng suất trung bình 650 kg/ha (2011), cao hon so với các hình thức nuôi tôm khác (tôm - lúa, tôm - rừng: 350 - 400 kg/ha); và đạt hơn 14.000 tấn năm 2012. Ông Châu Công Bằng, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Cà Mau cho biết, Cà Mau có thế mạnh nuôi tôm bằng nhiều hình thức, nuôi tôm QCCT đã được đầu tư và là một trong những hình thức nuôi tôm chính của địa phương.


Theo ông Ngô Thanh Lĩnh Sở NN&PTNT Cà Mau: Từ năm 2010 đến nay, diện tích và năng suất nuôi tôm QCCT liên tục tăng. Nuôi tôm QCCT hiện đang được tỉnh triển khai tại 8 huyện và TP Cà Mau, đặc biệt tại huyện Đầm Dơi (19.000 năm 2013), Trần Văn Thời...


z300-con-tom-452-


Nuôi tôm quảng canh cải tiến góp phần phát triển hiệu quả và bền vững ngành tôm - Ảnh: Trần Út


Nuôi tôm QCCT có nhiều ưu điểm; trong đó, đầu tư cơ sở hạ tầng ít tốn kém hơn so với nuôi tôm công nghiệp. Việc đầu tư chỉ gắn với công tác thủy lợi, quá trình chăm sóc đơn giản, không cần áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật. Chất lượng tôm giống không đòi hỏi khắt khe về kỹ thuật, không nghiêm ngặt như sử dụng cho nuôi tôm công nghiệp, ít rủi ro và xảy ra dịch bệnh, ít gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, đây được xem là mô hình sản xuất thân thiện môi trường, an toàn sinh học.


Một hộ nuôi tôm tại huyện Trần Văn Thời cho biết, đầu tư 1 ha đất nuôi tôm QCCT mất khoảng 30 - 40 triệu đồng, so với hình thức nuôi công nghiệp chi phí thấp hơn nhiều, lại đảm bảo được môi trường, phòng ngừa được dịch bệnh, giảm rủi ro. Theo kinh nghiệm những người đã thành công với mô hình này, để tránh tình trạng tôm chết trong quá trình nuôi, trong những ngày đầu khi mua tôm giống về thả nuôi, cần chia đều thời gian và cho ăn mỗi ngày 6 lần, để đảm bảo dinh dưỡng cho tôm. Sau đó giảm dần số lần cho ăn đến mức bình thường, mỗi ngày 2 lần. Khi tôm nuôi được khoảng 2 tháng tuổi cho đến lúc thu hoạch, cho ăn mỗi ngày 4 lần để thúc tôm mau lớn. Trong quá trình nuôi, cần chú trọng sử dụng chế phẩm sinh học bồi bổ gan và đường ruột của tôm.


Hướng tới bền vững


Năm 2013, Cà Mau chủ trương đưa tổng diện tích nuôi tôm QCCT lên 38.000 ha và đến năm 2015 là 55.000 ha. Tuy nhiên, để tăng cường hiệu quả cho người nuôi, việc tuyên truyền đẩy mạnh tập huấn ứng dụng khoa học kỹ thuật trong quá trình nuôi phải được thực hiện rộng rãi. Phải thay đổi được thói quen nuôi theo phương pháp cũ, trông chờ thiên nhiên, khai thác cạn kiệt tài nguyên đất, làm suy thoái môi trường. Các hộ nuôi phải tăng cường áp dụng biện pháp kỹ thuật, kết hợp với quản lý chất lượng con giống, thức ăn, vật tư phục vụ nuôi tôm, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm.


Ông Châu Công Bằng cũng nhấn mạnh, khó khăn với người nuôi tôm QCCT là tình trạng dịch bệnh trên tôm nuôi liên tiếp xảy ra, đến nay chưa có giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn hiệu quả. Môi trường nước phục vụ nuôi tôm ngày càng có dấu hiệu ô nhiễm do người dân và các cơ sở sản xuất còn thiếu ý thức, việc xả nước thải trực tiếp ra sông là nguyên nhân chính gây ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến sản xuất. Vì vậy, cần sự tham gia, quản lý của cộng đồng trong phòng ngừa dịch bệnh. Qua đó nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường, hình thành mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dưới sự quản lý của các hợp tác xã, tổ hợp tác, chi hội sản xuất... Ngoài ra, các đơn vị cần quan tâm chỉ đạo chuyển đổi sản xuất, xây dựng các chương trình, kế hoạch và giải pháp cụ thể; phân công trách nhiệm cho từng đơn vị chuyên môn; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch các đơn vị, cá nhân được giao.


>> Ứng dụng khoa học kỹ thuật sẽ giảm được rất nhiều rủi ro trong quá trình sản xuất, cũng như bảo vệ môi trường và tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt. Thành công của mô hình sẽ góp phần đảm bảo ngành tôm phát triển hiệu quả và bền vững.


Theo thuysanvietnam.com.vn





Tin mới hơn:


Tin cũ hơn:







Đăng ký: Bài đăng

Kiến nghị mua tạm trữ 1,5 triệu tấn gạo: Đề xuất 3 phương án mua tạm trữ gạo

@ nguontinviet.com

Ngày 23.5, tại TP.Cần Thơ, Bộ NNPTNT đã tổ chức họp bàn về phương án mua tạm trữ lúa, gạo vụ hè thu 2013 và góp ý kiến cho Dự thảo Quy chế thu mua lúa, gạo tạm trữ để trình Chính phủ thông qua.

Tồn kho gạo lớn


Theo báo cáo của Bộ NNPTNT, tổng sản lượng lúa hè thu vùng ĐBSCL dự kiến trên 9 triệu tấn lúa, sản lượng gạo là 4,652 triệu tấn và gạo hàng hóa là 3,110 triệu tấn sẽ được thu hoạch rộ vào tháng 7 - 8.2013.


240513_nong-thon-moi_lua-gao_dan-viet


Chính sách thu mua, tạm trữ lúa, gạo thời gian qua còn nhiều bất cập.


Trong khi đó, theo dự báo thị trường gạo thế giới năm 2013 tiếp tục diễn biến bất lợi cho xuất khẩu gạo Việt Nam do: Lượng gạo hàng hóa cần tiêu thụ năm 2013 trong nước ở mức cao, chưa kể lượng gạo tồn kho của năm 2012 (theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam- VFA) là 787,45 ngàn tấn. Sản lượng gạo toàn cầu năm 2013 được dự báo tăng đáng kể; đây là vụ thứ 8 liên tiếp cung vượt cầu (năm nay dự báo cung vượt cầu 171 triệu tấn) do đó, dự báo giá gạo thế giới trong thời gian tới khó có biến động tăng, hiện vẫn đang nằm trong xu hướng giảm.

Thứ trưởng Bộ NNPTNT Vũ Văn Tám: "Đối với chính sách mua, tạm trữ gạo, Bộ NNPTNT khuyến khích các thương nhân thu mua gắn với địa bàn vùng nguyên liệu, gắn với cánh đồng mẫu lớn. Song song đó, sẽ nghiên cứu khuyến khích thương nhân, doanh nghiệp gắn với chuỗi giá trị sản xuất, gắn với người sản xuất lúa để nông dân đạt được nhiều lợi ích hơn".


Mặt khác, nhu cầu nhập khẩu của một số quốc gia châu Á được dự báo giảm; cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu ngày càng gay gắt và có nhiều đối thủ mới, nhất là đối với thị trường xuất khẩu gạo phẩm cấp trung bình và thấp cấp...


"Do vậy, để đảm bảo ổn định giá lúa, gạo hàng hóa, ngăn ngừa được hiện tượng sụt giảm giá sâu đặc biệt vào thời điểm thu hoạch rộ, nhằm đảm bảo lợi nhuận tối thiểu cho nông dân, Bộ NNPTNT xây dựng kế hoạch tạm trữ lúa, gạo vụ hè thu năm 2013 để trên cơ sở đó trình Thủ tướng Chính phủ" – ông Nguyễn Trọng Thừa – Cục trưởng Cục Chế biến – Thương mại nông lâm sản và nghề muối nhấn mạnh.


Theo đó, số lượng đề nghị dự kiến thu mua cho tạm trữ vụ hè thu khoảng 1 triệu tấn quy gạo (chiếm khoảng 30% sản lượng hè thu); thời gian thu mua tạm trữ trong khoảng 60 ngày từ giữa ngày 15.6 đến 15.8.


Tại hội nghị, nhiều đại biểu kiến nghị cần tăng sản lượng thu mua tạm trữ lên 1,5 triệu tấn quy gạo. "Cần phải tăng sản lượng thu mua vụ hè thu lên 1,5 triệu tấn quy gạo, việc tăng sản lượng thu mua sẽ góp phần giải quyết được lượng gạo hàng hóa tồn kho của các địa phương" – ông Phan Anh Vũ – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long kiến nghị.


Địa phương khó mua tạm trữ


Tại Hội nghị, Bộ NNPTNT cũng công bố Dự thảo Quy chế mua tạm trữ lúa, gạo tại ĐBSCL. Theo dự thảo, căn cứ vào tình hình thực tế, Thủ tướng Chính phủ sẽ giao cho cơ quan làm đầu mối phân giao và tổ chức mua tạm trữ theo một trong 3 phương án.


Phương án 1: Giao VFA làm đầu mối phân giao cho các thương nhân xuất khẩu gạo thực hiện mua tạm trữ lúa, gạo. Phương án 2: Giao UBND các tỉnh, thành phố ĐBSCL phân giao cho các hộ nông dân, chủ trang trại, tổ hợp tác xã trồng và sản xuất lúa, gạo, các thương nhân thuộc địa bàn tỉnh hoặc ngoài tỉnh thực hiện mua tạm trữ lúa, gạo. Phương án 3: Giao UBND các tỉnh, thành phố làm đầu mối phân giao và tổ chức mua tạm trữ lúa, gạo tại địa bàn trên cơ sở lượng lúa, gạo được phân bổ.


Nhiều đại biểu cho rằng, việc phân bổ mua tạm trữ lúa, gạo giao về địa phương làm "chủ xị" là không khả thi. Vấn đề này cần phải có sự phối hợp chặt chẽ, quy định cụ thể trách nhiệm rõ ràng giữa VFA với lãnh đạo các địa phương, nên giao VFA làm đầu mối phân bổ. Bên cạnh đó, nên phân bổ chỉ tiêu tạm trữ theo sản lượng của từng địa phương, năng lực của từng doanh nghiệp...


Theo nongnghiep.vn





Tin mới hơn:


Tin cũ hơn:







Đăng ký: Bài đăng

Quỹ Hỗ trợ nông dân vay vốn không thu lãi

@ nguontinviet.com

Theo Thông tư số 69/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với các Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc hệ thống Hội Nông dân Việt Nam, vốn hỗ trợ, giúp đỡ hội viên nông dân được thực hiện dưới hình thức cho vay trợ giúp có hoàn trả (có hạn mức, có kỳ hạn) không thu lãi mà chỉ thu phí.

Resize_of_05


Quỹ Hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn - Ảnh minh họa


Bộ Tài chính nêu rõ, Quỹ Hỗ trợ nông dân hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm hỗ trợ và giúp đỡ hội viên nông dân phát triển sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.


Nguồn vốn hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân được sử dụng để hỗ trợ, giúp đỡ hội viên nông dân xây dựng và nhân rộng các mô hình phát triển kinh tế nhằm xóa đói, giảm nghèo; nâng cao qui mô sản xuất, phát triển ngành nghề; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển các hình thức kinh tế tập thể ở nông thôn; tạo việc làm, thúc đẩy việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp, khai thác tiềm năng, thế mạnh của vùng để tạo ra các loại nông sản hàng hóa, dịch vụ đạt chất lượng, hiệu quả cao.


Vốn hỗ trợ, giúp đỡ hội viên nông dân được thực hiện dưới hình thức cho vay trợ giúp có hoàn trả (có hạn mức, có kỳ hạn) không thu lãi mà chỉ thu phí.


Về thu phí, Quỹ Hỗ trợ nông dân được thu phí trên số vốn cho vay trợ giúp để trang trải các chi phí cần thiết cho hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân. Mức thu phí cho vay trợ giúp đảm bảo bù đắp các chi phí hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân, bảo toàn vốn và đảm bảo mục tiêu hỗ trợ nông dân. Quỹ Hỗ trợ nông dân không được thu thêm bất kỳ khoản phí nào khác ngoài khoản phí cho vay trợ giúp nêu trên.


Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam ban hành biểu phí cho vay trợ giúp để Quỹ Hỗ trợ nông dân thực hiện thống nhất.


Cũng theo Thông tư, Quỹ Hỗ trợ nông dân không được sử dụng nguồn vốn hoạt động để thực hiện các mục đích kinh doanh tiền tệ, đầu tư chứng khoán, kinh doanh bất động sản, đầu tư tài chính và các hoạt động kinh doanh khác.


Thông tư có hiệu lực thi hành từ 15/7/2013.


Theo chinhphu.vn (23/5/2013)





Tin mới hơn:


Tin cũ hơn:







Đăng ký: Bài đăng

Nuôi thủy sản theo hướng an toàn sinh học

@ nguontinviet.com

Nhờ thay đổi phương pháp chăm sóc theo hướng an toàn sinh học (ATSH) các loài cá truyền thống như trắm, trôi, chép, mè... đã mang lại hiệu quả cao cho người nuôi, rất thích hợp phát triển tại Hà Nội.

Cũ mà không cũ


Tại Hà Nội, mô hình nuôi trồng thủy sản theo hướng ATSH được triển khai thực hiện ở nhiều huyện (Thạch Thất, Phú Xuyên, Ứng Hòa, Mỹ Đức, Chương Mỹ, Thanh Oai, Thanh Trì...).


Năm 2012, Trung tâm Khuyến nông Hà Nội đã hỗ trợ 100% giống và 30% vật tư gồm thức ăn công nghiệp, chế phẩm sinh học cho các hộ gia đình tham gia thí điểm. Đồng thời, Trung tâm còn phối hợp với Trạm Khuyến nông các huyện thường xuyên cử cán bộ đến hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh cho cá.


Ngoài sử dụng chế phẩm sinh học xử lý nước, cán bộ kỹ thuật còn hướng dẫn nông dân biện pháp phòng trị bệnh tổng hợp bằng thảo mộc sẵn có tại địa phương, như: tỏi, nhọ nồi... Bởi vậy, mặc dù đối tượng cá nuôi không mới nhưng cách làm này giúp thay đổi tập quán sản xuất và nâng cao hiệu quả cho người nông dân.


Hiệu quả cao


Gia đình ông Kiều Hữu Hợp, xóm Trại (Đại Đồng, Thạch Thất) tham gia mô hình thí điểm nuôi cá truyền thống theo hướng ATSH với diện tích 1,6 ha. Ông Hợp cho biết, cơ cấu đàn cá trong ao lấy cá chép V1 làm chính, chiếm 60%, còn lại rô phi chiếm 20%, mè 10%, trôi 10%. Cứ 10 - 15 ngày, nước ao lại được xử lý một lần bằng chế phẩm sinh học. Do đó cá lớn nhanh, tốc độ tăng trọng bình quân đạt 1,7 - 2,2 g/tháng. Vụ thu hoạch cá cuối năm 2012, ông Hợp thu được 165 triệu đồng. "Cũng diện tích này, trước đây phải vất vả lắm gia đình tôi mới thu được 150 triệu đồng" - ông Hợp chia sẻ.


z300-Thuy-san-Viet-Nam2141-


Nuôi thủy sản theo hướng ATSH tại huyện Chương Mỹ - Ảnh: Lại Duy Cường


Anh Kiều Hữu Minh, một hộ thí điểm khác tại xóm Trại cho biết, cá nuôi ATSH có chất lượng, thơm ngon, dễ bán. Chủ yếu lượng cá được thương lái mang đi tiêu thụ trong nội thành Hà Nội. Với phương pháp nuôi mới, vụ cá năm 2012, gia đình anh thu được gần 80 triệu đồng.


Theo tổng kết của Trung tâm Khuyến nông Hà Nội, mô hình nuôi cá truyền thống theo hướng ATSH lấy cá chép V1 làm đối tượng chính cho năng suất cá trên 9 tấn/ha; trong đó cá chép đạt 5,7 tấn, rô phi 2 tấn, trôi 700kg, mè 1 tấn. Mức năng suất này cao hơn cách làm trước đây tại địa phương 2 - 3 lần. Hiệu quả kinh tế đạt gần 100 triệu đồng/ha.


Nuôi trồng thủy sản đang mang lại thu nhập cao hơn cấy lúa, nhất là nuôi theo hướng ATSH đã mở ra cách làm giàu cho nông dân. Tuy nhiên, để nhân rộng mô hình và nâng cao hiệu quả sản xuất, cần tiếp tục hỗ trợ cho nông dân chế phẩm sinh học và biện pháp xử lý nguồn nước. Cùng đó, hỗ trợ vốn cho các hộ dân đầu tư phát triển sản xuất.


Theo thuysanvietnam.com.vn (21/5/2013)





Tin mới hơn:


Tin cũ hơn:







Đăng ký: Bài đăng

Báo cáo của Cục Trồng trọt về giống lúa BC15

@ nguontinviet.com

BC15 là giống lúa thuần, được chọn lọc cá thể từ giống IR17494 (13/2), đã được Bộ NN-PTNT công nhận giống Quốc gia tại Quyết định số 319/QĐ-CLT ngày 15/12/2008.

Đây là giống lúa cho năng suất cao, chất lượng gạo ngon, được nhiều địa phương tiếp thu, mở rộng nhanh vào sản xuất. Tuy nhiên, giống lúa BC15 cũng có một số nhược điểm như dễ nhiễm đạo ôn và mẫn cảm với nhiệt độ thấp, chịu rét kém.


Vụ đông xuân 2012 - 2013, TCty Giống cây trồng Thái Bình cung ứng ra sản xuất hơn 3.000 tấn giống cho các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ và Nam bộ. Theo thống kê chưa đầy đủ, một số tỉnh có diện tích gieo cấy giống BC15 lớn trong vụ đông xuân 2012 - 2013 như Thái Bình khoảng trên 25 nghìn ha, chiếm trên 25% diện tích, Nam Định khoảng 10 nghìn ha, Bắc Giang 5 - 7 nghìn ha...


Đến thời điểm này BC15 trà xuân muộn (gieo mạ xung quanh tiết Lập Xuân, cấy sau Tết âm lịch) ở Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Bắc Giang... sinh trưởng, phát triển tốt, trổ tập trung từ sau 5/5, dự kiến cho năng suất cao. Tuy nhiên, tại Thanh Hóa, Nghệ An và một số tỉnh trung du miền núi phía Bắc như Vĩnh Phúc, Tuyên Quang... có một phần diện tích lúa BC15 trỗ vào cuối tháng 4 tỷ lệ kết hạt thấp, năng suất giảm từ 30 đến trên 70%.


16052013162821


Lúa BC15 cho năng suất cao trong vụ xuân 2012 tại Quỳnh Lưu


Trước tình hình trên, Cục Trồng trọt đã cử 2 đoàn công tác, phối hợp với Sở NN-PTNT Thanh Hóa, Nghệ An đánh giá mức độ thiệt hại, nguyên nhân và đề xuất hướng xử lý. Căn cứ báo cáo của các đoàn công tác, báo cáo của Sở NN-PTNT Thanh Hóa (số 868/SNN&PTNT-TT ngày 15/5/2013), Sở NN-PTNT Nghệ An (số 153/SNN-TT ngày 14/5/2013), báo cáo của Cty CP TCty Giống cây trồng Thái Bình (số 03/BC-TSC ngày 13/5/2013), Cục Trồng trọt đánh giá:


1. Tình hình thiệt hại


a) Tỉnh Thanh Hóa


Theo báo cáo của TCty Giống cây trồng Thái Bình, vụ đông xuân 2012 - 2013, TCty đã cung ứng vào tỉnh Thanh Hóa khoảng 300 tấn giống, tương đương khoảng 7.500 ha gieo cấy. Diện tích bị thiệt hại khoảng 3.370 ha (Thạch Thành 565 ha, Nông Cống 670 ha, Thọ Xuân 750 ha, Yên Định 608 ha và một số huyện khác), trong đó diện tích bị thiệt hại trên 70% khoảng 2.450 ha, thiệt hại từ 30-70% khoảng 870 ha.


b) Tỉnh Nghệ An


Trong vụ đông xuân 2012-2013 toàn tỉnh gieo trồng khoảng trên 8.000 ha lúa BC15, tập trung ở Quỳnh Lưu (khoảng 3.600 ha), Yên Thành (khoảng 3.300 ha), Diễn Châu (khoảng 863 ha)... Diện tích bị thiệt hại khoảng 3.000 ha (Quỳnh Lưu khoảng 1.600 ha, Diễn Châu khoảng 450 ha, Yên Thành khoảng 650 ha, Nghĩa Đàn khoảng 100 ha, Đô Lương khoảng 50 ha và các huyện khác), trong đó diện tích bị hại nặng trên 70% khoảng 2.000 ha, thiệt hại từ 30 - 70% khoảng 1.000 ha.


2. Nguyên nhân


Trên cơ sở đánh giá thực tế về thời gian và phương thức làm mạ, thời gian cấy và trỗ bông của trà lúa bị hại gắn với diễn biến của thời tiết tại các địa phương, Cục Trồng trọt thống nhất với Sở NN-PTNT Thanh Hóa, Nghệ An nguyên nhân là từ ngày 7 - 15/4/2013 xuất hiện nhiều đợt không khí lạnh, có những ngày nhiệt độ xuống dưới 17 - 18 oC, thấp nhất đo được tại Tĩnh Gia 16,6 oC (ngày 12/4/2013). Đây là thời điểm trùng với giai đoạn phân hóa đòng bước 5 - 6 của trà lúa BC15 bị thiệt hại, trong khi giống BC15 có nguồn gốc từ giống IR17494 (13/2), nên nhạy cảm với nhiệt độ thấp, đặc biệt ở giai đoạn phân hóa bước 5 - 6.


Nhiệt độ thấp là nguyên nhân chính làm cho các hoa lúa phát triển không bình thường (nhị, nhụy ngắn nhỏ, không vươn dài ra để thụ phấn, hạt phấn thoái hóa, giảm sức sống). Sự khác nhau về thời điểm phân hóa phát dục giữa bông cái và các bông con, giữa các hoa ở đầu và cuối bông, giữa khóm lúa gần bờ và giữa ruộng... dẫn đến sự khác nhau về mức độ bị hại trên cùng ruộng, cùng khóm, cùng bông lúa.


Ngoài ra, các ngày từ 23 - 28/4, thời điểm trỗ và thụ phấn thụ tinh của trà lúa BC15 bị hại có mưa lớn (số liệu tại Quỳnh Lưu là 93,7 mm và 86 mm). Thực tế kiểm tra tại các địa phương cho thấy các trà lúa BC15 trỗ trước hoặc sau thời điểm nói trên thì bình thường, cho năng suất cao.


3. Đề xuất kiến nghị


a) Về hướng hỗ trợ nông dân: Cục Trồng trọt thống nhất với Sở NN-PTNT Thanh Hóa, Nghệ An như sau:


- Đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh trình Chính phủ hỗ trợ từ ngân sách nhà nước theo Nghị định 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa và Quyết định 142/2009/QĐ-TTg ngày 31/12/2009 Về cơ chế, chính sách hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh; Quyết định 49/2012/QĐ-TTg ngày 08/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Điều 3 Quyết định 142/2009/QĐ-TTg.


- Đề nghị TCty Giống cây trồng Thái Bình thảo luận cùng các địa phương hỗ trợ một phần thiệt hại, giúp cho nông dân khôi phục sản xuất vụ hè thu, mùa 2013.


b) Về việc có tiếp tục đưa BC15 là giống lúa chủ lực trong vụ mùa 2013 theo đề nghị của Sở NN-PTNT Thanh Hóa: Cục Trồng trọt cho rằng, giống BC15 là giống lúa tốt có nhiều ưu điểm, nên những năm qua đã được tỉnh chọn là một trong những giống chủ lực trong vụ mùa. Những hạn chế về nhiễm đạo ôn và chịu rét nêu trên gần như không có nguy cơ xảy ra trong vụ mùa, nên Sở NN-PTNT Thanh Hóa cần hướng dẫn để nông dân yên tâm tiếp tục sản xuất.


Theo nongnghiep.vn (17/5/2013)





Tin mới hơn:


Tin cũ hơn:







Đăng ký: Bài đăng

Bài tính tinh vi để nông dân luôn nghèo vì… gạo - nongthonviet.com

nongdan24g @ nguontinviet.com


PGS.TS Nguyễn Văn Bộ cho rằng, khó để khẳng định có độc quyền trong xuất khẩu gạo, nhưng về hình thái là có, và chính sách hiện nay đang có nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp nhà nước.


Tiếp tục đi tìm lời giải cho câu chuyện nông sản Việt, chúng tôi có cuộc trao đổi với PGS.TS Nguyễn Văn Bộ, Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS – Bộ NN&PTNT).


PV – Ông đánh giá thế nào về chương trình thu mua tạm trữ lúa gạo Chính phủ đang thực hiện hiện nay với việc cấp vốn cho doanh nghiệp xuất khẩu thu mua tạm trữ gạo, với hy vọng đẩy giá lên và người nông dân có lãi?











PGS.TS Nguyễn Văn Bộ.
PGS.TS Nguyễn Văn Bộ.

PGS.TS Nguyễn Văn Bộ: Chủ trương của chương trình là đúng, nhưng việc triển khai chưa đồng bộ, tạm trữ phải trên cơ sở sản xuất ra, không phải tạm trữ qua thu gom từ thương lái như hiện nay.


Tất cả các ngành sản xuất hàng hóa hiện nay đều cần có vùng nguyên liệu riêng, trong khi các Tổng công ty lương thực (được giao tạm trữ và xuất khẩu – PV) lại không tham gia vào quá trình sản xuất, như vậy không công bằng với người nông dân. Vì hiện nay doanh nghiệp chỉ khi ký được hợp đồng bán mới quay về nước thu gom gạo, không bao giờ có thị trường tiêu thụ và nguồn cung nông sản ổn định.


Khi bán được là công của doanh nghiệp, ngành công thương, còn nếu không bán được lại đổ lỗi cho ngành nông nghiệp sản xuất nông sản kém chất lượng. Trong khi các doanh nghiệp sẵn sàng mua gạo kém chất lượng với giá thấp và trộn với loại gạo tốt hơn để bán, nên VN chỉ tham gia thị trường gạo giá rẻ. Thiệt hại cuối cùng người nông dân phải gánh chịu.


Trong chuỗi giá trị hạt gạo, không thể để người nông dân tách biệt với lợi nhuận chung, vì phần sản xuất được lợi rất ít, lợi nhuận chủ yếu tập trung cho phần chế biến (xay xát, đánh bóng), thu gom và xuất khẩu, trong khi phần này người nông dân không được tham gia. Cần phải phân bố lại lợi nhuận. Đấy là bất công trong điều hành toàn bộ chuỗi sản xuất và xuất khẩu gạo.


Chính phủ đề ra định hướng người nông dân lãi 30%, nhưng các con số đánh giá gần đây đều không đạt được mức đó, chỉ được khoảng 20% nếu không tính công lao động. Còn nếu tính công lao động, quản lý thì nông dân lỗ. Cần phải coi người nông dân như một doanh nghiệp, tốn chi phí để hoạt động, như chi phí quản lý, lao động, điện, nước… Nếu tính hết các chi phí thì không có lãi.


Cách tính giá thành hiện nay cũng chưa hết, doanh nghiệp đưa ra giá thu mua trên cơ sở giá hợp đồng bán, từ giá bán sẽ lùi lại phần lợi nhuận cho doanh nghiệp ra giá thu mua, và chỉ mua với giá đó còn không được thì dừng mua. Vì vậy giá thành này phải cho đơn vị độc lập tính thay vì để doanh nghiệp xuất khẩu lúa gạo tính rồi trình lên như hiện nay.


Giờ cần đặt lại vấn đề đặt hàng nông sản lâu nay chưa làm, Bộ Công thương hãy đặt hàng cho Bộ NN&PTNT sản xuất loại gạo gì, số lượng bao nhiêu, tiêu chuẩn ra sao… để nông nghiệp định hướng cho nông dân sản xuất, công thương có hàng đúng yêu cầu để bán bán cho khách hàng. Hiện nay ta vẫn tách bạch hai khâu trên nên khi có công xuất khẩu thì Công thương hưởng, còn tội thì Nôn nghiệp chịu.


Nên vừa rồi phải hai Phó thủ tướng vào Đồng bằng sông Cửu Long để bàn về tiêu thụ nông sản, trước đây sản xuất khó, giờ sản xuất được lại không tiêu thụ nổi. Không chỉ có lúa gạo, còn nhiều mặt hàng nông sản khác cũng vậy.


PV – Có ý kiến cho rằng thực tế người nông dân bán thóc cho thương lái, Chính phủ lại thực hiện tạm trữ gạo thông qua daonh nghiệp, nên lợi nhuận từ chương trình người nông dân không được bao nhiêu, còn doanh nghiệp hưởng lãi lớn, ông nghĩ sao về câu chuyện này?


PGS.TS Nguyễn Văn Bộ: Lâu nay việc thu mua tạm trữ Chính phủ giao cho doanh nghiệp xuất khẩu bằng việc tài trợ vốn để thu mua, xây nhà kho tạm trữ. Nhưng vừa rồi không làm được doanh nghiệp đòi giao về cho địa phương, nhưng địa phương đâu có kho chứa để tạm trữ. Khi có lợi anh nhận còn khi hết lợi thì anh đẩy về địa phương như vậy là không chấp nhận được.


Chưa kể còn cần cả một quá trình chế biến địa phương cũng không có.


Việc thu gom thóc rất ít đơn vị làm, chủ yếu là thương lái, trong khi doanh nghiệp chủ yếu thu gom gạo, cũng ít chế biến vì các đầu nậu chế biến là chính.











san-xuat-nong-san-Phunutoday.vn.jpg
Độc quyền xuất khẩu gạo, người nông dân lãnh đủ.

PV – Theo ông có hay không tình trạng độc quyền trong xuất khẩu gạo, ông nghĩ thế nào về tình trạng động quyền hiện nay tới lợi ích của người nông dân?


PGS.TS Nguyễn Văn Bộ: Khẳng định có độc quyền thì khó, nhưng về hình thái là có.


Chính sách hiện nay đang có nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp nhà nước. Nên cần phải minh bạch hơn, cần có tổ chức quản lý nhà nước can thiệp mạnh mẽ hơn trong vấn đề này. Còn để cho Hiệp hội lương thực – thực chất là các Tổng công ty lớn của nhà nước tham gia, nên các doanh nghiệp nhỏ, tư nhân khó tham gia được, kết cục người nông dân vẫn luôn luôn thiệt thòi.


PV – Với độc quyền như vậy, theo ông chính sách đưa ra có bị ảnh hưởng bởi lợi ích nhóm không, đặc biệt trong việc thu mua tạm trữ gạo?


PGS.TS Nguyễn Văn Bộ: Chính sách phải tương đối độc lập, còn hiện nay mình để cho những người tham gia trực tiếp vào quá trình xuất khẩu gạo đưa ra chính sách, nên tất nhiên họ phải để quyền lợi của họ được ưu tiên trong chính sách đó.


PV – Ông đánh giá thế nào về khâu sau thu hoạch nông sản hiện nay ở nước ta?


PGS.TS Nguyễn Văn Bộ: Khâu chế biến rõ ràng quá kém, trong khi khâu chế biến là quan trọng nhất, giá trị gia tăng của các mặt hàng nông sản nằm hết ở khâu này. Cần hướng tới khâu chế biến thay vì chỉ hướng tới sản lượng.


Ngoài ra, cần đầu tư cho khâu xây dựng thương hiệu nông sản, quảng bá ra thị trường thế giới.


PV – Ông có đề xuất giải pháp gì để giải quyết tình trạng trên?


PGS.TS Nguyễn Văn Bộ: Cần quy định đơn vị nào xuất khẩu nông sản phải có vùng nguyên liệu, bất kể đơn vị nào có vùng sản xuất là được xuất khẩu, đưa ra quy định như vậy sẽ bắt buộc doanh nghiệp tham gia sản xuất, đảm bảo hết ngay tình trạng trên.


Nếu quy định như vậy rõ ràng đơn vị nào muốn có vùng sản xuất phải đầu tư, khi đầu tư phải tìm được thị trường ổn định, tiêu chuẩn sản phẩm rõ ràng, và phải chia sẻ với người nông dân lợi nhuận, chứ không phải đứng ngoài cuộc sống của người nông dân như hiện nay. Như các doanh nghiệp trong ngành cà phê, cao su, mía đường… đang làm, mỗi nhà máy đều có vùng nguyên liệu riêng của mình, người nông dân xem như một cổ đông của doanh nghiệp, với đóng góp cổ phần bằng đất sản xuất, nên họ đều có lãi.


Vừa qua chúng ta huy động doanh nghiệp sản xuất giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật làm cánh đồng mẫu lớn, trong khi đơn vị xuất khẩu lương thực không làm, nên đầu ra không có.


Bằng những quy định trên, Nhà nước sẽ cho chính sách dồn điền, đổi thửa, chính sách cho xây dựng giao thông, cho vay vốn xây dựng kho chứa, máy móc chế biến… thậm chí là một phần của chương trình tạm trữ lúa gạo. Nếu cứ để như hiện này có nói mãi cũng không giải quyết được.


PV – Xin cảm ơn ông!



  • Lê Việt (thực hiện)/Báo Phụ Nữ Today






Đăng ký: Bài đăng

ky thuat uong ca tra pangasianodon hypoththalmus

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

Kỹ thuật ương cá Tra giống (Pangasianodon hypoththalmus)


I. Cải tạo, chuẩn bị ao ương

1. Chuẩn bị ao ương

- Diện tích ao 1.000 – 10.000 m2


- Đô sâu: 1,5 – 2,0 m


- Ao ương có lưới rào xung quanh.


- Gia cố bờ bao, cống cẩn thận.


- Nguồn nước cấp chất lượng tốt.


2. Cải tạo ao

- Bón vôi nung CaO cho đáy ao với lượng 10 – 15 kg/100 m2 và 5 kg/m2 cho bờ ao.


- Phơi đáy ao 1 – 2 ngày.


3. Lọc nước và xử lý nước

- Lấy nước qua lưới lọc trước khi thả bột 2 ngày, mực nước đạt 0,8 – 1,2 m.


- Gây thức ăn tự nhiên trong ao. Với độ sâu nước từ 1,0 – 1,2m, có thể chọn một trong các cách sau:

+ Thả trứng nước (Moina) vào ao trước khi thả bột với lượng khoảng 3 kg/ha ao (1 kg Moina tương đương 3 lon sửa bò).

+ Thức ăn 40% Protein: 1 – 3 kg/1.000 m2 kết hợp với men vi sinh 60 – 100 gr/1.000 m2 (ngâm 12 – 24 giờ trước khi sử dụng).

+ Super benthos 5 – 10 kg/1.000 m2 (không sử dụng thức ăn và men vi sinh).


- Mức nước khi thả cá bột phải ≥ 1,5 m (có thể xử lý Yuca trước khi thả cá bột 1 – 3 tiếng với liều sử dụng 0,1 – 0,15 lít/1.000 m3).


II. Kỹ thuật ương cá bột lên giống

1. Ương cá bột lên hương

a) Thả cá bột

- Mật độ thả 250 – 500 con/m2.


- Thời gian tốt nhất vào sáng sớm hay chiều mát.


- Kiểm tra chất lượng nước trước khi thả cá nhất là pH (thích hợp 7,5 – 8,5), nên tránh thả cá khi pH cao hay thấp.


- Ngâm bao từ 10 – 15 phút trước khi thả cá để cân bằng nhiệt độ trong và ngoài bao, tránh cá bột bị sốc nhiệt dẫn đến cá yếu và chết.


- Ngoài ra, cần chú ý tới vị trí thả cá bột: Thả trên gió, gần nơi cấp nước giúp cá phân tán điều ao, oxy nhiều. Thả cá từ trên ghe. Nếu đứng thả dưới ao thì hạn chế đi lại.


- Đánh giá chất lượng cá bột:

+ Cá bột phải khỏe, không dị hình, cỡ đồng đều và bơi lội nhanh nhẹn ở tầng đáy. Trước khi thả cần quan sát góc bao chứa cá xem có cá chết nhiều không; Cá bơi lội hoạt động mạnh hay yếu. Ngoài ra, có thể cho cá vào thau quan sát xem cá bơi mạnh sau 5 phút.

+ Sau khi thả cá bột 1 ngày thì vớt cá ở đầu, giữa, cuối ao cách đáy 10 cm theo hướng từ đỉnh xuống đáy và vòng lên. Nếu vợt có đường kính 40 cm thì trung bình vớt được 100 con/lần; Nếu vợt có đường kính 30 cm, trung bình vớt được 30 – 40 con/lần. Hai ngày sau khi thả cần chú ý xem màu sắc bụng cá có bắt mồi chưa, kích cỡ và hoạt động của cá so với ngày đầu thay đổi như thế nào. Sau 3 – 4 ngày, xem bụng cá có thức ăn đều hay không bằng cách vớt xem sinh khối trứng nước trong ao để điều chỉnh lượng thức ăn hàng ngày cho phù hợp.


b) Cho ăn

- Tuần 1: Trong 3 ngày đầu hoàn toàn cho ăn thức ăn tự nhiên (Moina). Sau đó cho ăn thức ăn đậm đặc 40% đạm (mịn) với liều lượng 0,5 – 1 kg/triệu bột. Ngày cho ăn 6 lần (6 giờ; 9 giờ; 12 giờ; 15 giờ; 18 giờ; 21 giờ).


- Tuần 2: Cho ăn thức ăn đậm đặc 40% đạm có cỡ lớn hơn (miễng, mãnh) với liều lượng 1,5 – 2,5 kg/triệu bột. Ngày cho ăn 5 lần (7 giờ; 10 giờ; 13 giờ; 16 giờ; 19 giờ). Tùy theo tình hình sức khỏe cá, có thể dùng 1 trong 2 loại hóa chất BKC 0,7 lít/1.000 m3 để xử lý.


- Tuần 3: Tiếp tục cho ăn thức ăn công nghiệp có kích cỡ phù hợp với miệng cá tra con. Lượng cho ăn tăng dần theo thời gian và có kiểm tra thường xuyên để điều chỉnh lượng cho ăn phù hợp.


c) Thay nước

- Không thay nước mà chỉ cấp nước bổ sung


- Lượng nước cấp thêm tùy vào mức nước và màu nước trong ao.


d) Quản lý chăm sóc

- Bệnh ít xuất hiện trong giai đoạn này và nếu cá bị nhiễm nặng nên tiêu hủy.


- Ghi chép vào sổ nhật ký:

+ Ghi chép đầy đủ các chỉ tiêu theo dõi trong nhật ký ương cá như: Môi trường, tình trạng sức khỏe cá, thức ăn, thuốc xử lý vào sổ nhật ký nuôi cá.

+ Phân tích các số liệu kỹ thuật dựa trên sổ nhật ký nuôi cá để có các giải pháp xử lý kịp thời trong quá trình ương cũng như đúc kết kinh nghiệm cho vụ nuôi kế tiếp.

+ Tổng hợp đánh giá kết quả về các định mức kỹ thuật, chi phí ương và hiệu quả kinh tế của mô hình.


e) Thu hoạch

- Sau thời gian ương 1 – 1,5 tháng thì thu hoạch cá để bán hay chuyển sang ao để ương cá lên giống.


- Kích cỡ cá thu hoạch gọi là cá hương, khoảng 3.000 con/kg.


- Tỷ lệ sống đạt ≥ 40%.


2. Ương cá hương lên cá giống

a) Điều kiện thả cá hương

- Mật độ ương: 100 – 150 con/m2.


- Thời gian tốt nhất vào sáng sớm hay chiều mát.


- Kiểm tra chất lượng nước trước khi thả cá nhất là pH (thích hợp 7,5 – 8,5), nên tránh thả cá khi pH cao hay thấp.


b) Cho ăn

- Cho ăn thức ăn công nghiệp có kích cỡ phù hợp (theo hướng dẫn của nhà sản xuất).


cho ca an


- Cho cá ăn 7 – 10% khối lượng thân/ngày. Cho ăn 3 – 4 lần/ngày.


c) Thay nước

- Định kỳ 7-10 ngày thay 20-30% nước trong ao.


- Xử lý môi trường ao ương giúp cá lớn nhanh và phát sinh bệnh bằng cách thay nước mới và bón vôi để ổn định pH.


d) Quản lý sức khỏe ao ương

- Cần xác định đúng bệnh và sử dụng thuốc và hóa chất phù hợp để phòng trị bệnh cho cá (sử dụng trực tiếp hay trộn vào thức ăn).


- Để thu được năng suất cao, phải có chương trình phòng bệnh hợp lý, khoa học. Ngày thứ 14: Tùy theo tình hình sức khỏe cá có thể dùng: BKC: 0,7 kg/1.000m3 để xử lý nước. Ngày thứ 21, 28, 35: Ngưng cho ăn, xử lý nước. Tùy theo tình hình sức khỏe cá có thể dùng BKC 0,7 kg/1.000m3.


- Trước thu hoạch 2 ngày, có thể sử dụng BKC: 0,7 kg/1.000m3 để xử lý nước.


e) Thu hoạch

- Sau thời gian ương 2 – 3 tháng thì cá đạt cỡ cá giống khoảng 30 – 70 con/kg, tốt nhất khi cá đạt cỡ 1,7 cm chiều cao thân.


- Tỷ lệ sống từ cá hương lên cá giống đạt ≥ 70%.


- Tỷ lệ sống từ cá bột lên cá giống đạt 28%.


III. Một số bệnh thường gặp trên cá tra giống

1. Điều kiện phát sinh bệnh


yeu to lam ca benh


nguyen nhan ca bi benh


2. Biện pháp phòng bệnh chung

- Cải tạo ao kỷ trước khi thả cá.


- Chọn giống khoẻ không nhiễm bệnh, trước khi thả nên tắm nước muối 0,5% trong 5 – 10 phút.


- Quản lý tốt môi trường nuôi. Định kỳ kiểm tra các yếu tố môi trường ao ương: pH, nhiệt độ, NH3,…


- Thường xuyên quan sát hoạt động của cá để phát hiện kịp thời các biểu hiện bất thường.


- Trong quá trình nuôi tránh gây sốc cá.


- Không ương nuôi với mật độ quá dày.


- Cho ăn đầy đủ, quản lý tốt tránh thức ăn dư.


- Định kỳ hằng tuần sử dụng CaCO3 (2 – 4 kg/100m3 nước).


- Bổ sung Vitamin C 2 lần/tuần (từ 0,5 – 1 g/1 kg thức ăn) để tăng sức đề kháng cho cá.


- Không dùng kháng sinh để phòng bệnh.


- Trộn thêm men vi sinh để giúp cá tiêu hoá tốt thức ăn và phòng một số bệnh về hệ tiêu hoá.


3. Một số bệnh thường gặp ở cá tra giống

a) Các bệnh do môi trường

- Thường xảy ra khi có sự thay đổi bất thường của thời tiết, làm cho các yếu tố thuỷ lý hoá của môi trường nuôi bị thay đổi đột ngột như pH, nhiệt độ, Oxy,…


- Khi gặp trường hợp này có thể sử dụng vôi bột (CaCO3) liều lượng 20 – 30 kg/1.000 m2 kết hợp tạt thêm 100 – 150 kg muối/1.000 m2.


b) Bệnh trùng bánh xe

- Nguyên nhân: Do trùng bánh xe Trichodina ký sinh ở da và mang cá.


trung banh xe


- Triệu chứng: Toàn thân cá có nhiều nhớt màu trắng đục. Da cá chuyển sang màu xám. Cá cảm thấy ngứa ngáy và nổi đầu hàng đàn.


- Điều trị: Dùng phèn xanh (CuSO4) tạt trực tiếp xuống ao với nồng độ 0,3 – 0,5g/m3 nước. Sau 24 giờ thay nước và bón vôi bột 20 – 30 kg/1000m2.


c) Bệnh sán lá

- Nguyên nhân: Do sán lá đơn chủ 16 móc (Dactylogyrus) hay 18 móc (Gyrodactylus). Thường bám ở mang hay da cá gây xuất huyết.


san la don chu


- Triệu chứng: Cá bệnh mang nhợt nhạt, thường hô hấp kém do mang và da tiết ra nhiều dịch nhờn, cá bị ngạt thở nổi đầu thành đàn, bơi lội chậm chạp hay bơi ven bờ thích tập trung chỗ có nước chảy.


- Điều trị: Nếu cá trong ao dùng formol với liều lượng 25 – 30 ml/m3. Ngày hôm sau thay 50 % lượng nước và xử lý thêm một lần nữa nếu cá chưa hết hẳn.


d) Bệnh nhiễm khuẩn

- Nguyên nhân: Do vi khuẩn Aeromonas, Pseudomonas, Edwardsiella.


- Triệu chứng: Xuất huyết từng đốm nhỏ trên da, chung quanh miệng, nắp mang và phía dưới bụng, bụng trương to có nhiều dịch màu hồng hoặc vàng.


- Điều trị: Cần đem mẫu đến các phòng xét nghiệm và chuẩn đoán bệnh để xác định vi khuẩn gây bệnh để có hướng sử dụng thuốc thích hợp. Ngoài ra kết hợp xử lý môi trường ổn định bằng cách tạt 20 – 30 kg vôi bột và 100 – 150 kg muối/1.000 m2.


Kỹ thuật ương cá tra giống by T.s Nguyễn Quang Trung – Chi cục Thủy sản Cần Thơ.




Đăng ký: Bài đăng

Thứ Ba, 23 tháng 7, 2013

Quy trình kỹ thuật nuôi cá Mú (Phần 1: Kỹ thuật ương cá Mú giống)

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com

I. Tổng quan


- Cá mú là một trong những loài cá biển có giá trị kinh tế cao và đang được phát triển nuôi ở các vùng biển ven đảo của tỉnh Kiên Giang như Phú Quốc, Hòn Nghệ, Hòn Nam Du…


- Có thể khẳng định, nuôi thủy sản lồng bè nói chung và nuôi cá mú nói riêng là hướng chuyển dịch cơ cấu ngành nghề đúng đắn, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngư dân vùng ven đảo ở tỉnh Kiên Giang. Theo đó, để nghề nuôi phát triển bền vững cần thực hiện đồng bộ các biện pháp, chính sách sau:

+ Bảo vệ môi trường và nguồn lợi cá giống một cách hiệu quả.

+ Nâng cao kỹ thuật chăm sóc và quản lý sức khoẻ cá nuôi cho ngư dân.

+ Hổ trợ vốn, quy hoạch vùng nuôi và xúc tiến thương mại cho người dân.

+ Cung cấp đủ nguồn cá giống đạt chất lượng cho người nuôi.


- Như vậy, nguồn giống tốt là một khâu quang trọng quyết định đến năng suất và hiệu quả kinh tế vụ nuôi. Tính đến thời điểm hiện tại, nguồn cá giống thả nuôi ở Kiên Giang được khai thác chủ yếu từ tự nhiên, kích cỡ từ 5 – 10 con/kg, giá cả tương đối cao. Tuy nhiên, nguồn lợi này ngày lại càng suy giảm về chất lượng và số lượng do tình trạng khai thác quá mức và bất chấp của người dân.


- Thu gom nguồn giống tự nhiên kích cỡ nhỏ có sẵn tại địa phương, hay chọn giống nhân tạo kích cỡ nhỏ, sau đó đem về ương trong bè đến khi cá lớn đến hơn 10 cm thì tiến hành chuyển cá sang bè nuôi thịt là một trong những hướng giải quyết khó khăn về nguồn giống hiện nay một cách hiệu quả và kinh tế.


II. Kỹ thuật ương cá mú giống

1. Thiết kế bè ương

Bè được làm bằng gổ (loại chịu mặn, chịu nắng), lồng lưới, phao và neo. Phao được buộc chặt vào khung gỗ và lồng lưới được treo vào khung gỗ, đáy lồng được làm căng bằng khung sắt và đá. Lưới làm lồng tốt nhất là loại không có gút, kích cỡ mắt lưới từ 0,5 – 1cm đối với cá từ 3 – 5 cm. Bè ương phải chắc chắn và có quy cách 3 x 3 x 3 m, 6 x 4 x 3 m, 2 x 2 x3 m. Bè được phân thành nhiều ngăn, mỗi ngăn là một lồng lưới có thể tích từ 3 – 8 m3 để thuận tiện khi quản lý, chăm sóc và phân cỡ cá.


2. Chọn vị trí đặt lồng nuôi

Vị trí đặt lồng là nơi yên tĩnh, ít sóng gió, lưu tốc dòng chảy từ 0,1 – 0,2 m/s, độ mặn từ 20 – 25‰, pH lớn hơn 7 và tương đối ổn định trong suốt vụ ương, độ sâu nơi đặt lồng từ 4 – 8 m, chất đáy là cát, cát sỏi. Bên cạnh đó, nước tại vị trí đặt lồng phải trong sạch, không bị nhiễm dầu mỡ, nước thải và xa khu vực tàu bè neo đậu, qua lại.


3. Chọn giống cá

Chọn cá giống tương đối đều cỡ, linh hoạt, khoẻ mạnh, màu sắc tươi sáng, không bị dị hình, cơ thể không bị xây xát, tổn thương.


4. Phân cỡ và tắm cá giống trước khi thả ương

- Cá giống trước khi thả ương phải được phân cỡ và tắm để giảm thiểu hao hụt do ăn nhau và bệnh tật phát sinh. Cá được cho vào bể hay thau chứa nước có sục khí và cho thuốc vào tắm. Có thể sử dụng oxytetracyline với liều lượng 80 – 100 g/m3, tắm từ 10 – 15 phút hay formol (100 g/m3) + thuốc tím (5 g/m3), tắm từ 5 – 10 phút. Sau đó thay nước mới và sử dụng các loại rổ hay khay có đục lổ với kích cỡ lớn nhỏ khác nhau để vớt và lọc cá thành các nhóm có kích cỡ khác nhau, mỗi nhóm kích cỡ cho vào lồng ương riêng. Như vậy cá trong một nhóm có kích cỡ tương đối đều nhau.


ca mu giong


- Cá được thả vào lúc sáng hay chiều mát, các thao tác như vớt cá, vận chuyển, tắm cá phải nhẹ nhàng, tránh phơi cá trực tiếp dưới ánh sáng mặt trời. Mật độ thả ương từ 80 – 100 con/m3 đối với cá có kích cỡ từ 3 – 5 cm.


5. Chế độ chăm sóc và quản lý

Chăm sóc, quản lý tốt sẽ làm tăng tỷ lệ sống, sức sinh trưởng và giảm thiểu được bệnh tật, từ đó, vụ ương sẽ đạt hiệu quả kinh tế cao. Các khâu cơ bản trong chăm sóc và quản lý bao gồm:

a. Tạo giá thể:

Tạo giá thể cho cá nhằm góp phần hạn chế cá hao hụt do ăn nhau và tạo nơi sống cho cá như ngoài tự nhiên. Giá thể có thể là:

- Các ống nhựa hay ống tre được xâu thành từng chuổi dài từ 1 – 2 m và treo trong lồng hay thả xuống đáy.


- Các túi lưới dài 1 – 2 m, 1 đầu được buộc vào cục đá và được thả hay treo trong lồng


b. Quản lý môi trường và vệ sinh lồng ương:

Quản lý môi trường và vệ sinh lồng ương tốt sẽ làm dòng chảy qua lồng thông thoáng, các yếu tố môi trường ổn định và phù hợp cho cá, đồng thời chế được bệnh tật.

- Khi các sinh vật biển (rong, hàu, sao biển…) bám lưới lồng nhiều, phải tiến hành thay lưới mới.


- Thường xuyên kiểm tra và vệ sinh lưới, loại bỏ thức ăn dư thừa ra khỏi lồng nuôi.


- Hàng ngày tiến hành đo pH, độ mặn nước và ghi chép cẩn thận. Khi phát hiện các dấu hiệu bất lợi như pH giảm, độ mặn thay đổi đột ngột, có thể treo túi vôi hay chuyển bè đến nơi khác có điều kiện tốt hơn.


- Khi phát hiện nước có nhiều cặn bã (do sóng to gió lớn, do mưa lớn hay dòng chảy mạnh), nhiều sinh vật li ti xuất hiện, hay khi nước phát sáng… cần tiến hành treo túi thuốc trong bè (thuốc tím, oxytetracyline, xanh methylen, chlorine, formol…) hay chuyển bè sang nơi khác có điều kiện tốt hơn.


- Bố trí mùa vụ ương khi điều kiện môi trường bên ngoài như độ mặn, nhiệt độ, pH tương đối ổn định, tránh thả cá ương trong thời điểm giao mùa mưa nắng hay khi thời tiết trở lạnh.


c. Chế độ cho ăn:

- Chọn thức ăn: thức ăn cho cá là tép, ruốc, nhuyễn thể, ghẹ hay cá tạp tươi được rửa sạch và băm nhỏ. Có thể trộn vào thức ăn vitamin c (10 g/kg thức ăn), khoáng (5 – 10 g/kg thức ăn), men tiêu hoá ( facs, aquazyme…), dầu mực (10 – 15 cc/ 1 kg thức ăn) để làm tăng tỷ lệ sống và sức sinh trưởng của cá ương. Nên xen kẽ cho ăn thuốc 5 ngày, ngưng 5 ngày để tăng hiệu quả sử dụng thuốc ở cá. Trong chế độ cho cá ăn, nên thay đổi nhiều loại thức ăn để đảm bảo sự cân bằng các chất dinh dưỡng.


- Liều lượng: cho cá ăn từ 3 – 4 lần/ngày vào lúc sáng sớm, trưa, chiều mát, lượng thức ăn chiếm từ 7 – 10% trọng lượng đàn cá trong lồng. Căn cứ vào tình trạng sức khoẻ cá, điều kiện môi trường, trọng lượng đàn cá để điều chỉnh lượng thức ăn hàng ngày.

+ Khi cá có dấu hiệu bị nhiễm bệnh hay bị bệnh, giảm lượng thức ăn 30 – 50%.

+ Khi điều kiện môi trường, thời tiết bất lợi như: sóng to gió lớn, nước nhiều cặn bã, địch hại, pH giảm, độ mặn thay đổi, mưa lớn kéo dài, trời trở lạnh… cần giảm lượng thức ăn.

+ Có thể sử dụng dầu gan mực trộn vào thức ăn để kích thích cá bắt mồi nhanh và ăn mạnh.


- Phương pháp cho ăn: trước khi cho cá ăn, rung nhẹ giá thể để cá rời nơi ẩn náu, đồng thời tạo thành phản xạ tự nhiên cho cá. Sau đó thức ăn được rãi từ từ và khắp lồng nuôi để cá bắt mồi khi còn lơ lững, tránh để thức ăn tích tụ ở đáy lồng.


- Ngoài ra, có thể bổ sung thêm mồi tươi sống cho cá bằng cách thả cá Suốt, cá rô Phi nhỏ vào lồng.


- Trong quá trình ương cá, cần thắp đèn điện cho lồng vào ban đêm để thu hút các phiêu sinh vật, sinh vật nhỏ vào lồng, đây là nguồn thức ăn tự nhiên rất tốt cho cá.


d. Phân cỡ cá:

- Đây là công việc cần thiết và quang trọng góp phần nâng cao tỷ lệ sống và sức khỏe cá nuôi. Cá đồng kích cở trong 1 nhóm rất khó ăn nhau và sinh trưởng tương đối đồng điều.


- Định kỳ từ 7 – 10 ngày tiến hành phân cỡ 1 lần. Phân cá thành các nhóm kích cỡ khác nhau, mỗi cỡ được thả ương riêng một lồng. Có thể tiến hành theo một trong 2 cách sau đây:

+ Gom lưới dồn cá vào 1 góc, dùng các loại rổ hay khay có đục lổ với kích cỡ rổ lớn nhỏ khác nhau để vớt lọc cá, thường lọc lấy nhóm cá có kích cỡ lớn trước.

+ Gom lưới dồn cá vào 1 góc hay cho cá vào bể, sau dó phân cỡ cá bằng cảm quan.


- Các thao tác tiến hành phải nhẹ nhàng, cẩn thận, tránh làm cá bị tổn thương và không nên phơi cá lâu ngoài không khí. Nên kết hợp phân cỡ với tắm cá bằng cách nhúng cá được lọc ở trong rổ vào dung dịch oxytetracyline (100g/m3), thuốc tím (10 g/m3) hay iodine trước khi thả cá vào lồng ương mới.


Quy trình kỹ thuật nuôi cá mú (Phần 1: Kỹ thuật ương cá Mú giống) by Trung tâm Khuyên ngư Kiên Giang.




Đăng ký: Bài đăng

Đời Sống & Sức Khỏe

Nguồn Tin Cập Nhật

Tags

Shrubby St. John's Wort