Tin tức nông nghiệp

Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2015

Cẩm nang nuôi tôm Thẻ Chân Trắng




Bí quyết để nuôi tôm thẻ chân trắng (P.vannamei) theo phương pháp sạch bệnh năng suất cao gồm 3 yếu tố: Nuôi vỗ tích cực; Nâng cao khả năng miễn dịch của tôm; Rút ngắn thời gian nuôi.


I. Nhân tố để thành công

- Giai đoạn mới thả phải cho con giống ăn đầy đủ kể cả thức ăn công nghiệp và thức ăn cao đạm tươi sống như hầu, hà, cá tươi xay nhuyễn để có giống khoẻ , giống chóng lớn.

- Giai đoạn nuôi tôm trưởng thành phải cho ăn nhiều hơn vì tôm chân trắng là loại tôm ăn khoẻ nên phải baỏ đảm đủ thức ăn cho tôm. Tỉ lệ cho ăn hằng ngày nên chú ý nhiều về buổi tối chiếm 70% ban ngày 30%. Thức ăn phải cho thêm thuốc kháng sinh phòng bệnh cho tôm để nâng cao khả năng phòng bệnh và khả năng miễn dịch của tôm.

- Giai đoạn cuối phải vỗ tích cực, cho ăn đầy đủ các loại thức ăn tổng hợp có bổ sung thêm các loại chế phẩm sinh học kích thích tôm lột xác chóng lớn rút ngắn thời gian nuôi.

* Lưu ý: Với các biện pháp trên, thời gian nuôi ở các ao thông thường là 60 ngày, ở ao nuôi công nghiệp mật độ cao khoảng 80 ngày có thể thu hoạch, cỡ tôm 50 con/kg.

II. Kỹ thuật nuôi

1. Mật độ con giống

- Ao nuôi tôm thịt phải tẩy dọn sạch sẽ, sát trùng kỹ; bón phân gây màu nước. Khi độ pH giao động từ 7 – 8,5 mới được thả tôm giống. Chọn ngày có nhiệt độ nước trên 22 độ C; độ mặn giống như độ mặn ao ương trung gian; nước sâu trên 80 cm mới thả tôm giống.

- Trước hết thả một số tôm giống vào giai đặt trong ao nuôi một ngày để thử nước trước.

- Mật độ thả: Tôm P.vannamei có tỷ lệ sống cao nên mật độ phụ thuộc vào độ sâu của nước ao và thiết bị nuôi.

- Ao sâu trên dưới 1m, mật độ thường là 12 con/m2; ao sâu trên 1,2m mật độ từ 12 con – 18 con/m2; ao cao sản khép kín mật độ là 50 – 65 con/m2.

- Tôm giống tốt nhất là tôm cho đẻ cùng một đợt và thả một lần đủ số lượng nuôi.

Nơi thả giống thường là nơi sâu nhất của ao và đầu ngọn gió.

- Khi tôm giống được vận chuyển đến ao nuôi để nguyên cả túi nilông đựng tôm thả xuống ao một thời gian để cho nhiệt độ trong túi và nhiệt độ nước ao cân bằng mới nhẹ nhàng mở túi để tôm tự bơi lội ra ao.

2. Quản lý chăm sóc

a) Những yêu cầu về chất lượng nước ao nuôi tôm P.vanamei

- Nhiệt độ nước từ 20 – 30 độ C;

- Ðộ mặn từ 5 – 30 tốt nhất là 10 – 25;

- pH 8,0 0,3, dưới 7 không thích hợp với tôm P.vannamei;

- Ôxy hoà tan 4 mg/l, không dưới 2 mg/l;

- BoD 5 30 mg/l;

- CoD < 6mg/l;

- Ðộ trong 30 5 cm;

- Màu nước: Màu xanh lục, xanh vỏ đậu hoặc màu mận chín;

- Muối hoà như sau: Po4- P -= 0,1 – 0,3 mg/l; SiO4 – S = 2mg/l; NH4 – N = 0,4 mg/l trở lên; NH3 < 0,1 mg/l. tỷ lệ N/P lớn thì tảo khuê nhiều; H2S <0,03 mg/l; Nếu pH thấp H2S dễ làm cho tôm bị ngộ độc.

- Vị trí lấy mẫu để xác định các chỉ tiêu thường là gần đáy ao nơi cho tôm ăn. Ðiểm lấy mẫu chỉ tiêu pH cách mặt nước 0,5m. Ðiểm lấy mẫu đo nhiệt độ ở tầng giữa của ao. Sau khi trời mưa to hoặc bão xong phải đo cả ở tầng mặt và tầng đáy.

b) Bảo đảm lượng ôxy hoà tan trong nước

- Bảo đảm lượng ôxy hoà tan trong nước bằng cách sử dụng máy quạt nước;

- Từ ngày bắt đầu thả giống đến ngày thứ 20 chỉ phải quạt nước vào ban đêm, những ngày trời râm và khi bổ sung nước ngọt mỗi ngày 2 – 4 tiếng;

- Từ ngày thứ 20 đến ngày thứ 40, mỗi đêm tăng lên 4 – 6 tiếng;

- Từ ngày thứ 40 trở đi quạt cả ban ngày và ban đêm, thời gian mỗi lần 4 – 6 tiếng;

- Nhu cầu máy quạt nước cho ao nuôi:

+ Thường ao có độ sâu 1,5m diện tích 5000 m2 phải dùng 4 – 6 máy;

+ Ao sâu 1,5 m trở lên cần 6 – 8 máy, máy đặt cách bờ 4 – 5m.

- Nếu nước ao bị xấu đi, sinh vật phù du chết nhiều làm màu nước thay đổi hoặc tôm bị bệnh phải dùng thuốc chữa bệnh thì phải mở máy liên tục cả ngày trừ những lúc cho tôm ăn.

c) Thay nước, bổ sung nước

- Nói chung các ao nuôi năng suất cao phần lớn thực hiện mô hình ít thay nước. Nhưng trường hợp sau đây phải chú ý cần thay nước (tốt nhất là nước ngọt):

+ Màu nước đột nhiên biến thành trong, hoặc biến đen, biến trắng hay các màu khác;

+ pH dưới 7,5 hoặc trên 9; biến động ngày đêm trên 0,5;

+ Sau khi chạy máy quạt nước mặt nước xuất hiện nhiều bọt không tan; vật lơ lửng ở trong nước nhiều lên; H2S, NH3, COD vượt quá chỉ tiêu cho phép.

+ Ðộ trong trên 80cm hoặc quá đục dưới 30cm.

- Lượng nước thay mỗi ngày không quá 30%. Trong một giờ không quá 10% lượng nước cần thay (nếu muốn tăng lượng nước trong một giờ lên thì trước đó phải tháo một lượng nước trong ao, sau đó vừa thêm nước vừa tháo nước đến lúc đạt độ cao cần thiết thì thôi). Khi tôm lớn đạt cỡ 8 cm thì thêm nước ngọt để hạ độ mặn xuống 10 .

- Việc thêm nước ngọt có ý nghĩa rất lớn cho việc phòng bệnh cho tôm vì đa số các loại vi sinh, ký sinh và một số virus gây bệnh cho tôm sống ở nước mặn đều bị chết khi gặp nước ngọt.

d) Biện pháp xử lý H2S và NH4

- Cần quản lý hàm lượng NH3 không được quá 0,5 mg/l; H2S không được quá 0,1 mg/l trong ao nuôi; nếu quá lượng trên tôm sẽ chết hàng loạt.

- Biện pháp khống chế H2S và NH3 như sau:

+ Mật độ tôm giống phải hợp lý, thức ăn cho tôm ăn hằng ngày phải hợp lý; sử dụng vi khuẩn quang hợp bón xuống ao để giảm thiểu ô nhiễm đáy ao;

+ Chú ý cải tạo đáy ao bằng cách giữa vụ nuôi bón thêm vôi CaCo3 hoặc bột đá để ôxy hoá các chất lắng đọng ở đáy ao; lượng vôi dùng cho mỗi m3 là 30 – 40g;

+ Dùng thức ăn nuôi tôm chất lượng cao, giảm thiểu ô nhiễm chất nước, ô nhiễm đáy ao.

3. Quản lý thức ăn

- Một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của việc nuôi tôm là thức ăn. Thức ăn tốt chất lượng cao là thức ăn chế biến đúng thành phần, đủ chất, đủ lượng, quá trình phối chế khoa học, vệ sinh, hệ số thức ăn thấp.

- Thức ăn chất lượng tốt nhưng phải có cách cho ăn khoa học, hợp lý, phù hợp với giai đoạn phát triển của tôm, phù hợp với trạng thái sinh hoạt của tôm, không thiếu, không thừa vừa thúc đẩy tôm lớn nhanh vừa bảo vệ được môi trường ao nuôi, không gây ô nhiễm, không gây lãng phí để đội giá thành của tôm lên cao là không kinh tế. Tính toán thức ăn cho tôm hợp lý cần phải nắm vững 5 điểm sau:

+ Số lượng tôm có trong ao;

+ Kích cỡ của tôm lớn/bé;

+ Tình trạng sức khoẻ của tôm và tình hình lột xác của tôm;

+ Chất lượng nước ao nuôi;

+ Tình hình dùng thuốc cho tôm trong thời gian qua.

- Số lượng thức ăn có quan hệ đến chiều dài tôm như sau:

+ Tôm có chiều dài 1 – 2cm, lượng thức ăn cho ăn hằng ngày bằng 150 – 200% trọng lượng tôm;

+ Tôm có chiều dài 3cm, lượng thức ăn cho ăn hằng ngày bằng 100% trọng lượng tôm;

+ Tôm có chiều dài 4cm, lượng thức ăn cho ăn hằng ngày bằng 50% trọng lượng tôm;

+ Tôm có chiều dài 5cm, lượng thức ăn cho ăn hằng ngày bằng 32% trọng lượng tôm.

4. Những điều cần chú ý khi cho tôm ăn

- Với nguyên tắc lượng ít, lần nhiều cần phải chú ý không cho tôm ăn khi:

+ Thức ăn kém phẩm chất, bị mốc hoặc bị thối;

+ Nước ao bị ô nhiễm nặng;

+ Trời đang mưa to, gió lớn;

+ Tôm đang nổi đầu;

+ Tôm đang lột xác.

- Cho tôm ăn ít khi: Giai đoạn tôm còn nhỏ.

- Cho tôm ăn nhiều khi:

+ Giai đoạn tôm bắt đầu trưởng thành đến cuối kỳ nuôi;

+ Trời nắng ấm, gió nhẹ;

+ Tôm khoẻ chất nước tốt.

- Thời gian cho ăn 5 đến 6 lần trong ngày, tỉ lệ thức ăn trong ngày phân bổ như sau:

+ Từ 18h00 đến 19h00 cho ăn 35%;

+ Từ 23h00 đến 00h00 cho ăn 15%;

+ Từ 4h00 đến 5h00 cho ăn 25%;

+ Từ 10h00 đến 11h00 cho ăn 15%;

+ Từ 14h00 đến 15h00 cho ăn 10%.

- Nhìn chung, số lượng thức ăn chủ yếu bón về ban đêm chiếm 70 – 80% ban ngày chỉ chiếm 20 – 30%.

5. Cách xác định thức ăn thừa thiếu

- Mỗi ao có diện tích 1.500m2, dùng một vó kiểm tra thức ăn để kiểm tra. Vó đặt cách bờ ao 3 – 4m nơi gần máy quạt nước là nơi có nhiều tôm đến ăn. Thức ăn cho vào vó khoảng 1- 2% mỗi lần cho ăn. Thời gian kiểm tra thức ăn trong vó phụ thuộc vào cỡ tôm.

- Tôm nuôi trong tháng đầu, có chiều dài khoảng 5cm. Thời gian kiểm tra 3 giờ một lần. Tôm nuôi trong khoảng 40 – 50 ngày có chiều dài trên 8cm. Thời gian kiểm tra 2- 2,5 giờ một lần. Tôm nuôi trong khoảng 60 ngày, có chiều dài trên 9cm. Thời gian kiểm tra 1,5 giờ một lần, đến hết thời gian kiểm tra nói trên, thức ăn trong vó vừa hết là đủ.

6. Cách xác định tỷ lệ sống của tôm

- Thả tôm giống vào giai đặt trong ao nuôi có mật độ giống như tôm nuôi trong ao, sau mười ngày xác định một lần; tỷ lệ sống trong gia nói chung kém ngoài ao 5- 10%;

- Dùng chài quăng nhiều lần ở nhiều điểm khác nhau trong ao để tính ra tỷ lệ sống của tôm trong ao theo công thức:

Tỉ lệ sống = (Số tôm đánh được bình quân trong một chài (con))/Diện tích chài (m2) ao (m2)K)x(Diện tích)

Trong đó K là hệ số kinh nghiệm nếu:

+ Nước sâu 1m, chiều dài của tôm 6- 7cm, hệ số K=1,4;

+ Nước sâu 1m, chiều dài của tôm 8- 9cm, hệ số K=1,2;

+ Nước sâu 1,2m, chiều dài của tôm 6- 7cm, hệ số K=1,5;

+ Nước sâu 1,2m, chiền dài của tôm 8- 9cm, hệ số K=1,3.



Đăng ký: Bài đăng

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2015

Chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng sen


Nhiều năm trồng lúa nhưng không đủ chi tiêu trong gia đình, nhân dịp qua thăm người em trai ở Giồng Riềng, Kiên Giang thấy bà con nơi đây trồng xen canh sen – lúa hiệu quả cao, ông Lê Văn Tám (ở xã Tân Tiến, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang) liền sà vào tìm hiểu. Sau một thời gian học hỏi kinh nghiệm, ông quyết tâm gom góp tiền bạc, đầu tư gần 10 triệu đồng để mua sen giống đem về trồng trên diện tích 2ha lúa của nhà mình.
Lúc thấy ông bỏ lúa vụ 2, 3 và trồng sen (chủ yếu lấy gương sen), bà con xung quanh ai cũng tròn mắt và tỏ ra nghi ngại. Thế nhưng ông rất tự tin: “Mình có làm liều đâu, đã khảo sát hết rồi và cũng đã gặp thương lái, họ đồng ý bao tiêu sản phẩm đầu ra nên mình mới dám mạnh dạn trồng đó chứ ”.



nongdan24g @ nguontinviet.com
Với 2ha sen, cứ cách 3 ngày là gia đình ông Tám hái gương sen một lần (một lứa sen kéo dài khoảng 2 tháng), mỗi lần thu hoạch khoảng 500kg, giá bán từ 10.000 – 12.000 đồng/kg.

Theo ông Tám, sen là loại cây rất dễ trồng, chi phí đầu tư thấp, ít sâu bệnh, không tốn nhiều công chăm sóc như các loại cây trồng khác. Với 2ha sen, cứ cách 3 ngày là gia đình ông hái gương một lần (một lứa sen kéo dài khoảng 2 tháng).

Mỗi lần thu hoạch khoảng 500kg, giá bán từ 10.000 – 12.000 đồng/kg, vào mùa cao điểm (tháng 9) giá có thể lên đến 20.000 đồng/kg. Ông nhẩm tính: “Mỗi một mùa sen, sau khi trừ chi phí, gia đình tôi có nguồn thu nhập trên 100 triệu đồng, cao gấp 3 lần trồng lúa. Gia đình nhờ đó không những đủ chi tiêu mà còn dư dả sắm sửa này nọ”.

Bên cạnh cho hiệu quả kinh tế, mô hình trồng xen canh sen – lúa còn góp phần làm giảm chi phí đầu tư ban đầu khi chuyển sang trồng lúa. Bởi sau vụ sen, ông tiếp tục canh tác thêm vụ lúa đông xuân. Với hình thức này, sẽ tận dụng được nguồn phân bón trong quá trình trồng sen, vì nguồn dự trữ chất bùn trong đất còn rất cao nên giảm được lượng phân bón cho lúa.

Thấy ông Tám làm tốt, đầu ra lại ổn định, vụ nào trước khi trồng cũng đều có thương lái đến tận nhà hợp đồng bao tiêu trước nên nhiều nông dân trong và ngoài xã đến tham quan, học hỏi và đặt mua con giống về trồng thử nghiệm, nhân rộng mô hình.

Đăng ký: Bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

Nguyên nhân gây Hội chứng tôm chết sớm (EMS)


Hội chứng tôm chết sớm bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam từ năm 2010 và bùng phát mạnh từ tháng 3/2011, gây thiệt hại rất lớn cho người nuôi tôm. Năm 2012, Việt Nam có trên 100.776 ha tôm nước lợ bị thiệt hại về dịch bệnh, bao gồm các bệnh hội chứng gan tụy cấp tính, đốm trắng, đầu vàng…
- Ngày 1/5/2013, Liên minh Thủy sản toàn cầu (GAA) đã thông báo rằng, Tiến sĩ Donald Lighter, nhà nghiên cứu bệnh học của Trường Đại học Arizona, đã tìm ra nguyên nhân của Hội chứng tôm chết sớm (hay còn gọi là EMS), dịch bệnh làm tiêu tốn của ngành nuôi tôm thế giới hàng tỷ đô la mỗi năm.
- Nhóm của Lighter cũng đã chỉ ra rằng, Hội chứng tôm chết sớm được gây nên bởi một chủng duy nhất của một loại vi khuẩn khá phổ biến, còn gọi là Vibrio parahaemolyticus, đã bị nhiễm bởi một loại virus được biết đến như một thực thể khuẩn mà phát ra một loại độc tố mạnh. Vi khuẩn được truyền miệng, sống tại đường tiêu hóa của tôm, và sau đó sản xuất ra độc tố gây phá hủy mô và nguyên nhân rối loạn chức năng gan tụy, cơ quan tiêu hóa của tôm.
- Nghiên cứu cũng tiếp tục với việc phát triển các xét nghiệm chẩn đoán để phát hiện nhanh chóng dịch bệnh Hội chứng tôm chết sớm, cho phép nâng cao quản lý trong trại giống và trong ao. Nghiên cứu cũng cho phép đánh giá tốt hơn về những rủi ro xảy ra trong quá trình nhập khẩu tôm đông lạnh hoặc các sản phẩm khác từ các nước bị ảnh hưởng bởi Hội chứng tôm chết sớm.



- Một vài nước cũng thực hiện những chính sách nhằm ngăn chặn việc nhập khẩu tôm đông lạnh và những sản phẩm khác từ những nước bị ảnh hưởng bởi EMS. Tiến sĩ Lighter cũng cho biết rằng tôm đông lạnh có thể coi là nguồn lây nhiễm rủi ro thấp cho tôm tự nhiên và môi trường bởi vì tôm bị nhiễm EMS có đặc trưng là rất nhỏ và không được buôn bán giao thương quốc tế. Cũng có nhiều cố gắng để làm lây truyền bệnh bệnh sử dụng mô đông lạnh nhưng không thành công, Tiến sĩ Lighter cho biết thêm.
Nguyên nhân gây Hội chứng tôm chết sớm (EMS) by Undercurrentnews.
kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com
Đăng ký: Bài đăng

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2015

Mô hình nuôi tôm Thẻ trong nhà


Anh Đinh Vũ Hải (39 tuổi, ngụ ấp Biển Đông B, xã Vĩnh Trạch Đông, TP Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu) đã áp dụng thành công mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh trong nhà kính. Với mật độ thả tôm nuôi lên đến 290 con/m2, năng suất đạt 90 tấn/ha.

- Theo anh Hải, nuôi tôm trong nhà kính chi phí ban đầu khá cao. Tổng chi phí cho 1 ha khoảng 10 tỷ đồng, gồm chi phí cất nhà bao phủ các vuông tôm, xây tường xung quanh ao nuôi, lót bạc dưới ao, hệ thống dàn quạt, ô xy đáy, hệ thống dây chuyền cho tôm ăn bằng máy… Những vụ nuôi tiếp theo không cần bỏ ra số tiền đầu tư lớn. Do mô hình đầu tư khá hiện đại và khép kín nên phải thả nuôi thâm canh với mật độ khá cao.

- Trung bình mật độ thả nuôi từ 200 – 290 con/m2, tôm sau 100 – 105 ngày thả nuôi là cho thu hoạch, đạt kích cỡ từ 30 – 33 con/kg, năng suất đạt khoảng 60 tấn/ha, giá bán ra thị trường bình quân khoảng 170.000 đ/kg. Đặc biệt, có nhiều ao sau thu hoạch đạt từ 87 – 90 tấn/ha.

- Theo anh Hải, đã qua 5 vụ thả tôm nuôi liên tiếp đều trúng lớn, sản lượng thu hoạch hàng trăm tấn tôm thương phẩm/vụ. Tôm nuôi trong nhà kính có nhiều ưu điểm như dễ kiểm soát, tăng trưởng khá nhanh; đặc biệt là tôm thương phẩm sau thu hoạch bóng và đẹp nên được các công ty chế biến tôm xuất khẩu thu mua với giá cao so với thị trường.

- Theo kinh nghiệm của anh Hải, do tôm thả nuôi với mật độ cao nên hệ thống dàn quạt và ô xy đáy phải hoạt động liên tục 24/24 giờ. Theo đó, định kỳ 5 ngày phải cấy vi sinh một lần và hàng tuần phải kiểm tra sự tăng trưởng của tôm để có thể điều chỉnh lượng thức ăn, môi trường nước kịp thời.

Điều đặc biệt nuôi tôm trong nhà kính không cần thay nước, nguồn nước có thể được tận dụng để thả tôm nuôi những vụ tiếp theo. Do đó sẽ chủ động được khâu xử lý nước thải trong môi trường nuôi tôm – một vấn đề bức thiết mà lâu nay không có giải pháp khắc phục.

- Ngoài ra, để quản lý tốt môi trường ao nuôi định kỳ 3 – 4 ngày phải xi phông đáy ao một lần (hút bỏ các chất thải, bùn, độc tố tích tục dưới đáy ao) góp phần làm sạch môi trường nuôi tạo ra sản phẩm nuôi sạch đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường xuất khẩu. “Do tôm nuôi mau lớn, thời gian nuôi ngắn nên 1 năm có thể nuôi từ 3 – 4 vụ, đạt tổng sản lượng trên 200 tấn/ha/năm”, anh Hải cho biết.

- Hiện anh Hải cùng gia đình đang đầu tư mở rộng quy mô nuôi tôm lên đến 60 ha tại xã Vĩnh Trạch Đông. Trong đó, đầu tư 2 khu nuôi tôm khép kín gồm khu nuôi tôm sạch chất lượng cao và khu nuôi tôm công nghệ cao siêu thâm canh trong nhà kính.

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com
Đăng ký: Bài đăng

Các trường hợp gây bệnh đục cơ ở tôm Thẻ Chân Trắng



Khác với tôm sú, tôm thẻ chân trắng thường xảy ra hiện tượng đục cơ. Sau đây là các trường hợp gây đục cơ và những giải pháp khắc phục khi nuôi tôm chân trắng.

1. Do sốc nhiệt kết hợp với cong thân

- Trường hợp này thường xảy ra khi nhấc nhá (sàn, vó) lên khỏi mặt nước vào ban ngày, khi nhiệt độ rất nóng. Tôm nhảy lên và búng mạnh, rồi sau đó một số con bị cong thân. Đuôi uốn cong chạm đến phần giáp ngực, cùng lúc đó mô cơ chạy dọc theo phần giữa cơ thể sẽ trở nên trắng đục. Sau khi được thả trở lại ao, tất cả tôm cong thân đều sẽ chết vì không có khả năng tự duỗi thẳng. Tương tự, khi chài tôm kiểm tra lúc nắng nóng, tôm cũng trắng cơ và cong thân. Cách tốt nhất để hạn chế là không nhấc nhá lên khỏi mặt nước hoặc sử dụng chài để kiểm tra tôm khi thời tiết nắng nóng.


- Hiện tượng này đôi khi cũng xảy ra khi tắt toàn bộ quạt nước lúc cho tôm ăn rồi bật quạt chạy trở lại. Việc các dàn quạt hoạt động trở lại có thể khiến tôm “giật mình” và nhiều con nhảy lên mặt nước tạo thành “làn sóng” chạy dọc theo ao. Hiện tượng này thường xảy ra vào lúc khuya, một vài con bị cong thân khi tiếp xúc với không khí và chuyển sang trắng cơ. Thường thì người nuôi không chú ý đến hiện tượng này và đến ngày hôm sau mới phát hiện có tôm chết ở trong ao. Vấn đề này thường xảy ra khi thời tiết có nhiệt độ cao và trong ao có nhiều loài tảo giáp phát triển. Mật độ tảo giáp cao làm cho nước có màu nâu đỏ và tôm yếu đi. Cách tốt nhất để tôm không nhảy lên mặt nước do bị sốc vì bật lại máy quạt nước là khi tôm đạt kích cỡ 10 gram/con hoặc lớn hơn thì người nuôi nên duy trì hoạt động của một vài dàn quạt, thậm chí trong lúc cho tôm ăn.


2. Do trong quá trình vận chuyển hoặc sang ao


Khi kéo lưới để bắt tôm cho mục đích thu tỉa hay sang ao, một số tôm sẽ bị stress và một phần hay toàn bộ cơ thịt của nó sẽ bị trắng đục, hoặc thỉnh thoảng có sự pha lẫn giữa màu trắng và màu tối khác thường như màu cam hoặc màu đỏ hồng. Hầu hết tôm có màu khác thường này sẽ chết. Những con khác bị nhẹ nếu có hồi phục thì cũng mất vài ngày màu sắc cơ thể mới trở lại bình thường. Biện pháp tốt nhất là phải kiểm tra sức khoẻ tôm trước khi di chuyển sang ao mới. Nếu tôm khoẻ mạnh thì nó có thể chịu đựng được stress. Nếu người nuôi bắt đầu chuyển tôm và phát hiện thấy một vài con chuyển sang trắng đục thì nên hoãn lại. Nước dùng vận chuyển tôm phải có nhiệt độ 24 – 25 độ C và hàm lượng oxy phải cao.


3. Do hàm lượng oxy thấp


- Lượng oxy trong nước ao nuôi sẽ thấp nếu như không lắp đủ các dàn quạt nước tương ứng với số tôm trong ao. Theo kinh nghiệm, mỗi mã lực điện (HP) máy quạt nước thì sẽ cung cấp đủ oxy cho 400 – 500 kg tôm chân trắng. Người nuôi nên tính số lượng dàn quạt nước vừa đủ cung cấp oxy cho lượng tôm có trong ao. Ngoài ra, vị trí đặt dàn quạt nước cũng rất quan trọng, lắp đặt các dàn quạt nước đúng vị trí sẽ tạo được dòng chảy cuốn chất thải vào giữa ao, làm cho đáy ao luôn sạch, đồng thời làm cho oxy được khuyếch tán vào mọi nơi trong ao, đặc biệt là giữa ao, nơi diễn ra sự phân huỷ các chất hữu cơ được tích tụ từ xác tảo tàn và thức ăn dư thừa. Quá trình phân huỷ các chất hữu cơ tăng lên trong suốt vụ nuôi và đây là nguyên nhân làm lượng oxy trong nước giảm xuống thấp. Chất thải hữu cơ tích tụ trong ao sẽ được vi sinh phân huỷ và hoạt động sống của chúng cần lượng lớn oxy. Khi trời có nhiều mây mù hoặc mưa trong vài ngày liên tục, tảo sẽ không thể quang hợp tốt và sẽ không tạo ra nhiều oxy. Trong khi đó, mọi sinh vật sống trong ao bao gồm tôm, tảo và vi sinh vật đều sử dụng oxy. Oxy hoà tan trong nước không đều và rất thấp ở giữa ao, đặc biệt là những ao không có sự trao đổi nước thường xuyên và thả tôm mật độ cao. Khi có nhiều tôm, người nuôi phải cung cấp nhiều thức ăn và màu nước ao sẽ đậm vì tảo phát triển dày đặc.

- Nếu oxy trong ao tôm từ 4 ppm trở lên, cơ thể tôm chân trắng có màu sáng bình thường. Nhưng trong những ao nuôi mật độ cao và oxy hòa tan thấp, thì tôm sẽ bị stress và cơ thể sẽ có xu hướng chuyển thành màu trắng hay mờ đục. Khi hàm lượng oxy xuống thấp 1,7 ppm thì tôm sẽ bơi lên mặt nước (tôm nổi đầu) và hầu hết sẽ chết khi lột xác. Hiện tượng này cũng đã được chứng minh ở phòng thí nghiệm Aquaculture Business Research Center của Đại học Kasetsart, Thái Lan. Tôm được nuôi trong bể kính có sục khí đầy đủ. Khi tắt máy sục khí, oxy trong nước giảm và kéo theo hoạt động của tôm giảm. Tôm không bơi lội nhiều và thường có khuynh hướng xuống gần đáy bể. Tôm sẽ không chết hoặc bơi lờ đờ lên mặt nước kể cả khi oxy trong nước thấp hơn 1 ppm. Tuy nhiên, khi hàm lượng oxy xuống thấp hơn thì hầu hết tôm có dấu hiệu mô cơ trở nên trắng đục. Một số con chỉ trắng tại phần gốc của các chân bơi.


4. Do sức khỏe bệnh lý

Ngoài những trường hợp trên, tôm còn có thể đục cơ do bệnh lý. Ở vùng nuôi có độ mặn tương đối cao (25 – 35‰), tôm chuyển sang trắng đục ở một số bộ phận trên cơ thể, nhưng nguyên nhân không phải do stress mà thường do vi bào tử trùng (Microsporidian). Ngoài ra, tôm nhiễm virus (IMNV – Infectiuos Myonecrosis Virus) cũng có thể chuyển sang trắng đục. Các điểm hoại tử nhỏ bắt đầu ở phần đuôi rồi sau đó lan dần ra toàn thân. Tỷ lệ chết tích lũy khá cao, khoảng 40 – 70%. Cho đến nay vẫn chưa có biện pháp chữa trị mà chủ yếu vẫn áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp như không dùng tôm bố mẹ nhiễm bệnh trong các trại giống, loại bỏ những tôm bệnh ra khỏi ao nuôi và làm tốt công tác cải tạo ao.

Các trường hợp gây bệnh đục cơ ở tôm Thẻ Chân Trắng by GS. Chalor Limsuwan, Đại học Kasetsart, Thái Lan.

kythuatnuoitrong.com @ nguontinviet.com
Đăng ký: Bài đăng

Đồng Nai có người trồng tiêu giỏi nhất thế giới - nongthonviet.com



Đồng Nai có người trồng tiêu giỏi nhất thế giới Với sản lượng hồ tiêu “khủng”, anh Thắng không những là người đi đầu phong trào xóa đói giảm nghèo mà còn là nhà nông xuất sắc, đạt danh hiệu “Người trồng tiêu giỏi nhất thế giới” do Hiệp hội Hồ tiêu thế giới trao tặng.

“Đệ nhất tiêu”




Người đạt danh hiệu trồng tiêu giỏi nhất thế giới là một nông dân ở Đồng Nai, tên Trần Hữu Thắng, 43 tuổi, Chủ nhiệm Liên hiệp Câu lạc bộ tiêu năng suất cao Phước Lộc, xã Xuân Thọ, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai. Anh Thắng bên một cây hồ tiêu Cầm tấm bằng khen trên tay, anh Thắng tâm sự:
“Cho tới bây giờ tôi vẫn còn cảm giác lâng lâng vì tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ được giải thưởng cao quý đến như thế. Tôi là một nông dân, suốt ngày gắn bó với ruộng vườn và chỉ biết cố gắng cày cuốc, chăm sóc cây trồng để đạt năng suất cao. Khi biết tôi được nhận giải, rất nhiều bà con trong ấp đã tới nhà chúc mừng”. Anh Thắng sinh ra tại huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Năm 1984, anh lặn lội vào Nam kiếm sống. Những ngày đầu đặt chân đến Đồng Nai, anh lang thang tìm việc làm thuê rồi tích góp tiền bạc mở đất trồng cây. Để phát triển kinh tế, anh hùn vốn đầu tư vào trồng ngô và sắn (mì). Nhưng năng suất cao mà lãi thu về không được bao nhiêu. Gần 10 năm gắn bó với ruộng vườn mà không tích góp được gì, anh Thắng quyết định mạo hiểm đầu tư vào trồng tiêu. Năm đầu tiên, với 3ha diện tích đất trồng tiêu, anh chia thành 3 phần với 3 cách chăm bón khác nhau. Kết thúc 1 năm chăm sóc, diện tích nào đạt hiệu quả cao thì năm tiếp theo anh chọn cách đó. Với sự sáng tạo và tìm tòi, áp dụng khoa học kỹ thuật, vườn tiêu của anh Thắng luôn xanh tốt. Năm 2005, Trung tâm khuyến nông huyện Xuân Lộc, Đồng Nai khuyến khích nông dân đưa kỹ thuật mới vào sản xuất. Anh Thắng quyết định sử dụng 20% diện tích đất của mình để thử nghiệm. Áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất nên mỗi vụ thu hoạch, năng suất tiêu bình quân của gia đình anh Thắng luôn đạt từ 7 – 8 tấn/ha. Đặc biệt, vào năm 2010, năng suất tiêu đạt 11 tấn/ha. Tiêu phát triển mạnh, năng suất cao nên mỗi năm gia đình anh Thắng thu về gần 1 tỷ đồng. Từ năm 2006 – 2012, anh Thắng là người trồng tiêu đạt năng suất cao nhất tỉnh Đồng Nai.





Anh Thắng lâng lâng sung sướng bên tấm bằng khen “giỏi nhất thế giới”


Chia sẻ kinh nghiệm Những ngày này, anh Thắng xuất hiện trên vườn tiêu của mình không chỉ với tư cách là người làm vườn mà còn là người thầy huấn luyện kỹ thuật cho bao nông dân khác. Là người đi lên từ hai bàn tay trắng nên anh Thắng luôn hiểu rõ sự vất vả của nhà nông. Để giúp những người đồng nghiệp, anh luôn tận tâm chia sẻ, hướng dẫn cụ thể. Khi anh được Hiệp hội Hồ tiêu thế giới trao tặng giải thưởng “Người trồng tiêu giỏi nhất thế giới” cũng là lúc người trồng tiêu trên khắp mọi miền đất nước tìm về để được anh hướng dẫn cách làm giàu.
Anh chia sẻ kinh nghiệm: “Ngoài sự cần cù trong chăm sóc thì người trồng cây còn phải nắm được quy trình, sinh lý của cây. Có như vậy thì mới có thể tìm ra cách chăm bón phù hợp nhất”.
Là nông dân đi đầu trong phong trào áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất góp phần xóa đói giảm nghèo. Thành tích “Người trồng tiêu giỏi nhất thế giới” không chỉ làm rạng danh gia đình anh Thắng mà còn là niềm tự hào của cả xã, niềm vinh dự cho cả nước nhà”.

Đăng ký: Bài đăng

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015

Nuôi cá chiên ở xứ Tuyên


Suốt 3 năm thử nghiệm mô hình nuôi cá chiên nơi nước tĩnh, ông Chu Đức Minh, thị trấn Na Hang, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang đã thành công ngoài mong đợi...




Ông Chu Đức Minh chọn bắt cá chiên xuất bán
Năm 2007, khi thủy điện Na Hang dâng nước, ông Chu Đức Minh mạnh bạo chuyển lên thác Mơ, nơi có mặt nước tự nhiên mênh mông để đóng bè nuôi cá lồng. Nước trong sạch, những mẻ cá lồng như cá lăng nha, cá chê lai, cá tra, rô phi đơn tính... đã giúp ông thu nhập cao, cải thiện cuộc sống và kinh tế gia đình ngày càng khấm khá.

Thế nhưng, các loại các thông thường chỉ phục vụ các thực khách bình dân, làm nhiều nhưng tiền tích lũy chẳng bao nhiêu, trong khi nhiều thương lái đến đặt mua cá chiên quý hiếm với giá từ 500.000 - 600.000 đ/kg. Dẫu biết cá chiên có giá trị cao, nhưng vấn đề nuôi nhốt loại cá quý hiếm này không đơn giản vì tiền mua giống đến thức ăn đều phức tạp.

Đặc tính của cá chiên chỉ ưa sinh sống nơi nước chảy xiết, hoặc các hang hốc đá dưới chân thác nước. Từ trước tới nay vẫn chưa ai có kinh nghiệm nuôi loài cá này. Riêng ông cũng chỉ biết đến loại cá chiên qua việc đánh bắt, thả câu đầu mùa hạ và có bắt được chỉ để bán hoặc giết thịt, chứ nuôi nhốt chưa bao giờ làm.

Đúng lúc đang muốn nuôi thử cá chiên, ông Minh nghe tin Phòng Nông nghiệp huyện Na Hang đang có dự án hỗ trợ tiền giống, thức ăn để giúp nông dân thực hiện thí điểm nuôi cá chiên nước tĩnh tại hồ thủy điện Na Hang.

Ngay lập tức, ông liên hệ với cán bộ Phòng Nông nghiệp huyện và được biết qua kiến thức cơ bản nuôi cá chiên như: Vị trí đặt lồng nuôi, cách thức chăm sóc, cách chọn cá giống... Một thông tin giá trị, làm ông Minh quyết tâm thực hiện, đó là cá chiên ăn thịt các loại cá nhỏ hơn, cá tạp sẵn có trong tự nhiên. Ông thấy phù hợp với nghề đánh vó điện. Vì mỗi lần cất vó đủ loại cá tạp, cá nhỏ sau đó loại ra phục vụ chăn nuôi vì không bán được. Ông đã về nghiên cứu thiết kế lồng nuôi theo hướng dẫn kỹ thuật của cán bộ Phòng Nông nghiệp.

Khi đóng xong lồng nuôi, ông đi đăng ký với các thuyền câu cá chiên giống dọc bờ sông Gâm để mua gom từng con giống. Cá chiên giống cũng khá đắt, với mỗi kg con giống chỉ được trung bình từ 4 - 5 con, giá thời điểm mua năm 2011 là 450.000 đ/kg. Do nguồn vốn ít, ông chỉ mua hơn 20 kg cá giống, đếm được 80 con đem về thả lồng.

Hàng ngày, mỗi lần cất vó, ông gom nhặt những con cá tạp đem về vất xuống cho chúng ăn. Thấy cá ăn đều đặn, sau mấy tháng bắt thử vài con lên cân thấy lớn đều và không có bị nấm bệnh như những lồng cá trê lai gần đó.

Hơn 2 năm nuôi nhốt, tất cả những con cá chiên của ông Minh đều lớn khỏe bình thường, con nhỏ được 2,5 kg, con lớn được gần 3 kg. Giá mỗi kg cá chiên bán tại chỗ cũng được 500.000 đ. Với kết quả đó, ông tiếp tục mua cá giống thả bù, với phương châm vừa nuôi con nhỏ, vừa bán những con to để giảm chi phí thức ăn chăn nuôi.

Qua nuôi nhốt, ông Minh rút ra rằng, cá chiên dễ tính hơn loài cá khác ở chỗ chúng chỉ cần ăn mỗi ngày một bữa. Đôi khi bận việc hoặc không kiếm được cá tạp, thì cách một hoặc hai ngày không chăm nó cũng chẳng chết, nên rất phù hợp với lối nuôi thả rông dài của nông dân miền núi.

Với kết quả khả quan này, Phòng Nông nghiệp huyện Na Hang tiếp tục hỗ trợ tiền đóng lồng cho các hộ dân nuôi cá trên mặt hồ mở rộng nuôi cá chiên đặc sản nơi nước tĩnh, với mỗi lồng là 1,6 triệu đồng. Cách hỗ trợ kịp thời của chính quyền huyện Na Hang đã giúp một số hộ dân tích cực tham gia vào mô hình nuôi cá chiên nơi nước tĩnh.

"Mấy ngày cuối tháng 4 vừa rồi ở Na Hang oi bức chuẩn bị có mưa đá và gió lốc, cá bỏ ăn đến cả tuần. Bây giờ hễ không thấy nó lên ăn, tôi lại chuẩn bị củi đuốc và buộc lại lồng bè để chuẩn bị... đón trời mưa to, gió lớn", ông Minh chia sẻ.

Mô hình nuôi cá chiên nước tĩnh thành công trên lòng hồ thủy điện Na Hang không chỉ giúp gia đình ông Chu Đức Minh có cuộc sống ngày một khấm khá hơn, mà góp phần tạo hướng đi mới, phát huy thế mạnh của hơn 8.000 ha mặt nước hồ thủy điện Na Hang nuôi cá đặc sản theo nhu cầu thị trường.

Bạn Nên Xem:

Bài Viết Liên Kết

Translate

Mạng Nội Trợ

Nguồn Tin Cập Nhật

Danh Mục

'Striped Toga' @Actinidia @Akebia @Alangium @Apiaceae @Arachis @Artemisia @Asteraceae @Bách lí hương @bacha @Bignoniaceae @Cà rốt @Camquy @Caprifoliaceae @Caragana @Carrot @câu kỷ tử @Celosia @Cornaceae @Cucurbita @Eggplant @Ericaceae @Fabaceae @Glycine @Haemodoraceae @hatgiongdau @Lamiaceae @Lathyrus @maca @Malva @Mentha @Papaver @Phaseolus @sam maca peru @Solanaceae @Strelitzia @Thachnam @Vicia &docdao #Actinidiaceae #Amaryllidaceae #Asteraceae #Bacha #CayAnTrai #caybatmoi #Caycanh #caygiavi #caylaunam #caytihon #channuoi #dayleo #duocpham #Fabaceae #giavi #hatgiong #hatgiongbaubi #hatgiongcachua #hatgiongdau #hatgionghoa #hatgiongrau #hiemla #hoa #HoBacHa #hocuc #Hương liệu #Lamiaceae #Mentha #nhaptuMy #nuoica #Rau #Solanum #thaoduoc #thitruong #thucpham #Thực phẩm #tintuc #trangtri #trathaoduoc #Trị bệnh #tribenh #trongcay +Bí +Daucus +Đậu +Pumpkin +Trifolium Acmella oleracea ACT00087 Actinidia chinensis Aeonium AKE00091 Akebia quinata ALA00094 Alangium platanifolium Alexandria Squash ALL00069 Allium Allium Schoenoprasum Ammi Dara Amorphophallus Amorphophallus Bulbifer ảnh ANI00089 Anigozanthos flavidus Apple of Sodom Aquaponics ARA00097 Arachis hypogaea ART00095 Artemisia dracunculus Asclepias Asclepias curassavica Asteraceae ăn kiêng Bạc hà Bạc hà á Bạc hà Âu Bạc hà chanh Bảo thạch Ba tư Bầu Bầu bí Bầu Hồ Lô Bầu Khổng Lồ Bầu Rắn Bells of Ireland Bells-of-Ireland Bệnh Đốm Rong bệnh sốt rét bệnh thối trái bệnh tiểu đường Bí Bí Hooligan Bí khổng lồ bí mì Ý Bí ngòi Bí ngòi Alexandria Bí ngón tay bí ngồi Bí Porcelain Doll Bí rợ Bí rợ da ếch Bí rợ dài Naples Bí Spaghetti Tivoli Bí tam giác biến đổi khí hậu Bình tử thảo Bird-of-paradise bird's nest bishop's lace Black Cumin Bladderworts Bliss Pumpkin Blog Bloomsdale Longstanding blue daisy Bonsai Bowl Lettuce bột maca Bưởi Bưởi Da Xanh Cà Cá chạch đồng Cá chẽm cá chép Nhật cá chim vây vàng Cà Chua cà chua anh đào Cà Chua Xanh cá điêu hồng cá lóc cá Mú cà phê chồn Cà rốt Cà rốt dại cà tím Cà tím Suraj Cải Cải bó xôi cải cầu vồng Cải xoong cam Canada CAR00077 CAR00098 Caragana arborescens Caraway Carrot Seed Atlas Carum Carum carvi Catmint Catnip Catswor cẩm quỳ Cân điện tử Cần tây Câu kỷ tử Cây ăn Quả cây bắt mồi cây bông tai Cây Carum Cây gia vị Cây gọng vó Cây kế sữa Cây Kiwi Cây lâu năm Cây nắp ấm cây ngô đồng cây ngô thi cây sưa Cây Thuốc Cây trúc Cây Trường sinh Celosia Tornado chamomilla chanh không hạt Chăn nuôi Chân kanguru đỏ chè dây Sapa Cherry chi Bông tay Chi Việt quất Chicory Chives Grolau Chocolate Vine Chôm chôm chống muỗi Chùm ớt chuối chuối hột Chuối rẻ quạt Chữa bệnh chữa ho Cichorium intybus Cỏ Cỏ ba lá đỏ cỏ cà ri Cỏ xạ hương Common Thyme Contact Us Corn Poppy Cow's Udder Công Cụ Crassulaceae Củ nén Cua Đinh Cúc Cúc áo hoa vàng Cúc Bạc Hà CUC00115 CUC00121 CUC00122 CUC00127 CUC00129 Cucamelon Cucumber Cucumis sativus Cucurbita Cucurbita maxima Cucurbita moschata Cucurbita moschata CUC00130 Cucurbita pepo Cucurbita pepo CUC00124 DAU00074 Daucus Daucus carota dầu maca Dây Leo Dây leo Chocolate dinh dưỡng Dinh Dưỡng Dưa chuột Dưa chuột Boothbys Dưa hấu nhỏ Mexico dưa lưới dừa sáp dược phẩm Dương cam Cúc Dương đào Đào ruột xanh Đặc Biệt đậu Đậu Âm Dương Calypso Đậu biếc Đậu biếc Lavender Đậu Hoà Lan Đậu Lam Siberian Đậu nành Đậu nành envy Đậu nành Tankuro Đậu ngự Đậu ngự Jackson Wonder Đậu phộng Đen Đậu que tím Đậu tằm Đồng Tháp Động vật Eggplant El Nino Eteckcity Featured Fenugreek Feverfew Garden thyme German Chamomile Gia vị Giảm cân Gieo trồng Giống cây trồng giống dự trữ Giống Hiếm GLY00099 GLY00100 Glycine max Goji Goji Berries Goji Berry GOURD Gourd Baby Bottle Gourd Yugoslavian Fingers Hạ khô thảo Hành tăm Hành trắng Hạt Chia Hạt Giống Hạt giống Bầu Bí Hạt giống Hoa Hạt Giống Hoa Hạt Giống Rau Hạt Giống Rau Quả Hạt Giống Thảo Mộc Hạt giống Tí Hon hạt maca Hạt Methi HealthWorks HERB Highbush Blueberry Himalayan Honeysuckle họ Bạc hà Họ Bạc hà Họ Bầu bí Họ Cà Họ Cúc họ La bố ma Họ Ráy Họ Thạch nam Hoa hoa chim thiên đường Hoa Chuông Hoa Cúc Hoa cúc Đức hoa lạ Hoa mào gà Hoa môi Hoa Oải Hương Hoa Thiên điểu Hoa Thơm Cỏ Lạ Hoa tình yêu Nigella Hooligan Pumpkin Hội chứng tôm chết sớm húng quế Húng quế́ Huyết bì thảo hương liệu Hương Thảo JAC00093 Jacaranda mimosifolia Japanese Kênh 1 Kênh 2 Kênh 3 Khuyến nông Kim Ngân Kinh Nghiệm Kiwi lạc Lactuca Lactuca sativa Lagenaria Lagenaria siceraria làm cảnh làm đẹp Làm vườn LAT00116 LAT00118 Lathyrus odoratus LAV00078 LAV00079 Lavandula Lavandula angustifolia Lavandula augustifolia LAVENDER Lavender Munstead Lavender English Lemon Basil LEY00090 Leycesteria formosa Loa kèn đỏ LYC00084 Lycium Lycium chinense mã đề Malva sylvestris Mammoth Red Clover MAT00056 Matricaria chamomilla máy đo độ ẩm Melothria scabra MEN00081 Mentha × piperita meridian fennel Mexican Mint Milk Thistle Mini Plant Mint MOL00055 Moluccella Molucella laevis Món Ngon Monarda Monarda citriodora mướp mỹ phẩm nấm nấm mộc nhĩ Nén Nepeta Nepeta cataria New 2015 Ngải Ngải thơm nhà phố nhập khẩu từ Mỹ Nhập khẩu từ USA Nhập từ Canada nhập từ USA Nhiệt đới Nigella Nigella sativa nipple fruit northern pitcher Nông dân Nông dân làm giàu Nông nghiệp nông nghiệp Việt Nam Nông thôn Việt nuôi cá nuôi cá chiên Nuôi chim nuôi Dòi Nuôi tôm nuôi tôm Càng Xanh Nuôi trồng Nuôi vịt OIL Open-Pollinated Organic PAP00117 Papaver rhoeas Pea Peppermint Peppermint swiss chard Persian cumin PHA00102 PHA00104 Phaseolus lunatus Phaseolus vulgaris Phượng tím PHY00052 Physalis Physalis ixocarpa Pineapple Tomatillo Pisum Pisum sativum Prizewinner PRU00060 Prunella Prunella vulgaris Pumpkin Pumpkin Prizewinner purple pitcher quất Queen Anne's lace Queen's Bird-of Paradise Queen's Bird-of-Paradise Quỷ xuy tiêu Rau ăn lá Rau Bina rau chân vịt rau củ quả rau Dền Rau diếp rau diếp xoăn rau gia vị Rau húng Rau Quả rắn Lục Red Red Kangaroo Paw Romano Purpiat Bean ROS00051 Rosemary Rosmarinus officinalis Salad Salvia Salvia hispanica Sarracenia Sarracenia Purpurea sâm Hàn Quốc Shop hạt giống Siêu Thực Phẩm Silybum Silybum marianum SNAKE GOURD SOL00125 Solanaceae Solanum Solanum Mammosum Solanum melongena Sơn thù du Spaghetti Squash Spinacia Spinacia oleracea STA00065 Stachys Stachys coccinea STR00092 Strelitzia reginae Striped Toga Eggplan Superfood Suraj Eggplant sức khỏe Sweet Pea TAG00050 Tagetes Lucida tài chính Tảo Spirulina thanh hao hoa vàng Thảo dược Thảo Dược Thảo luận Thảo Mộc thất diệp nhất chi mai thầu dầu Thì là Ba tư Thì Là Đen Thiên điểu Thiên nhiên Thôi chanh lá tiêu huyền thuốc lợi tiểu thuốc thảo dược thủy canh Thủy tô Thủy tô tía THY00082 Thymus vulgaris Tin nông nghiệp Tinh Dầu Hoa titty fruit Tivoli Tỏi Tomatillo Toothache Plant tôm thẻ chân trắng Tốt Cho Sức Khỏe Trà Vinh trang trại trang trí Trang trí Treated Seeds Trị Bệnh TRI00131 Triamble Trichosanthes Trichosanthes cucumerina Trifolium pratense Trigonella Trôm Trồng Cây trồng lúa trồng rau trồng rau sạch trồng sen trồng tiêu tử đằng Tử đằng Nhật bản Umiwe ung thư Utricularia Alpina VAC00086 Vaccinium corymbosum VIC00106 Vicia faba viêm khí quản Việt quất Việt quất xanh Vịt Uyên ương Voodoo Lily Vui wild carrot Windowsill Chives Windsor Fava Bean WIS00085 Wisteria Wisteria floribunda wormwood Xà lách y học cổ truyền Ý kiến